Danh Ngôn

Những nhà văn xuất chúng luôn luôn là những nhà phê bình nghiêm khắc nhất đối với chính tác phẩm của mình.

(The best authors are always the severest critics of their own works.)

Lord Chesterfield, chính khách, nhà văn Anh. (1694-1773). Thư gởi con trai, 6 tháng Năm 1751

Tôi có một nhà phê bình đòi hỏi quá quắt hơn các bạn: đấy là cái tôi thứ hai của tôi.

(I have a critic who is more exacting than you: it is my other self.)

Jean Meisonier, họa sĩ Pháp. Trong tuyển tập của Alice Hubbard, An American Bible, tr. 192, 1946

Hỏi một nhà văn đang sáng tác ông ta nghĩ gì về các nhà phê bình cũng giống như hỏi một cột đèn cảm thấy thế nào về các con chó.

(Asking a working writer what he thinks about critics is like asking a lamppost how it feels about dogs.)

Christopher Hampton, nhà soạn kịch sinh tại Bồ Đào Nha 1946 hiện sống tại Anh. Trong Sunday Times, (London), 16 tháng Mười 1977

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Sáng bolero với Trần Thị Vĩnh Tường…

(Rút từ facebook của Ngô Thị Kim Cúc)


Chị đề nghị mọi người đừng gọi chị là nhà nghiên cứu, là diễn giả… nên tôi chỉ gọi chị là chị Trần Thị Vĩnh Tường, người bạn FB đang sống ở Mỹ, cách quê hương Việt Nam tới nửa vòng trái đất mà vẫn thấy rất thân thương gần gũi… Bởi vì những gì chị viết trên trang cá nhân đều vấn vương, đan quyện với một không-thời-gian mà ở đó tuổi thơ và tuổi trẻ của chị đã trải qua, trôi qua, lớn lên và sau đó biền biệt xa như là chị đang xa: Sài Gòn trước 1975…

Bolero là một phần của âm nhạc miền nam trước 1975, và đang “trở lại” trên khắp lãnh thổ Việt Nam, từ những “phong trào tự phát” hoặc “có ý đồ” gì đó chưa thể xác định. Sau khi một số đài truyền hình địa phương của miền nam khởi xướng thì hiện nay bolero đã có mặt trên các đài truyền hình lớn, từ HTV của Sài Gòn đến VTV của Hà Nội.

Cuộc trò chuyện sáng thứ Bảy 20/1/2018 tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn với đề tài BOLÉRO, DI SẢN ÂM NHẠC TRONG DÒNG CHẢY VĂN HOÁ CỦA CƯ DÂN NAM BỘ khá đông thính giả, gồm cả người trẻ lẫn người không còn trẻ, cả sinh viên và nhà báo lẫn những người làm việc ở các lĩnh vực không phải văn hóa nghệ thuật, đã diễn ra trong một không khí hào hứng và thân tình hết sức đáng quý. Có lẽ những người tới đây đều thật sự muốn biết thêm thông tin về văn hóa miền nam, muốn tìm hiểu tường tận một vấn đề đang nóng. Chỉ tiếc là khán phòng khá nhỏ khiến nhiều người phải đứng ra hành lang, và một số phải ra về.

Kẻ Di Truyền Sách (kỳ 5)

Trần Vũ thực hiện

clip_image002clip_image003

Tranh Carl Gustaf Hellqvist

Trần Vũ: Đọc quyển Văn học Truyện Hậu Hiện đại anh vừa xuất bản, tôi hiểu tinh thần Hậu Hiện đại là thách đố hiện thực, nhưng vẫn lạ lẫm vô cùng là anh xếp truyện ngắn Mùa Mưa Gai Sắc của tôi viết về Nguyễn Huệ với Lê Ngọc Hân vào khuynh hướng ấy, như anh đã xếp Người Chết Trôi Đẹp Nhất Thế Giới của Garcia Marquez vào cùng catalogue. Không lẽ những gì ít hiện thực hoặc siêu hư cấu đều là sản phẩm Hậu Hiện đại? Cá nhân tôi chỉ muốn thoát ra khỏi các định luật vật lý của Newton và Galilée, vì con người là một sinh vật tinh thần mà tinh thần không bị sức hút của trọng lực. Còn các trường phái huyễn ảo, từ Borgès đến Cortázar, Fuèntes là cả một lịch sử văn chương Nam Mỹ khó gộp vào một “chủ nghĩa” duy nhất. Ở đây, chừng như có sự tham lam của những nhà lập thuyết khi gói bánh chưng, gom hết những hạt đậu xanh khác thường vào chung một khuôn bánh!

Nhưng cá nhân Ngu Yên, anh xếp thi ca của anh vào phái nào? Và khi cho rằng văn thơ của ai đó mang tính Hậu Hiện đại thì nó làm sáng tỏ điều gì?

Ngu Yên: Để có thể trả lời minh bạch những câu hỏi nhỏ quấn nhau trong câu hỏi lớn về căn cước của Hậu Hiện Đại, có lẽ, nên cùng nhau nên xác định một số ý tưởng nền tảng, để có thể lược qua tiến trình văn học thế giới. Ví dụ như tiến trình kiến trúc của con người đi từ vay mượn hang động thiên nhiên, rồi biết xây nhà bằng đất và tranh, xây nhà gỗ, xây nhà gạch, tiến đến bê tông cốt sắt, rồi kiến trúc muôn dạng muôn hình như hôm nay. Vật liệu và phương pháp xây cất là chứng minh cấp độ của trí tuệ, của văn minh, của thẩm mỹ mà con người thay phiên nhau khám phá. Tuy nhiên, nhu cầu căn bản đầu tiên: Nơi trú ngụ an toàn; mục đích đầu tiên: bảo vệ sinh tồn cá nhân và tập thể, không thay đổi. Tiến trình văn chương cũng trong mô hình này. Anh Vũ và các bạn thử nghĩ, nhu cầu và mục đích đầu tiên của văn chương là gì? Tự dưng, phần còn lại sẽ hiện thân rõ ràng: 1- Những khám phá liên tục của trí tuệ. 2- Những thực hiện thẩm mỹ bày tỏ những khám phá của trí tuệ. 3- Cảm xúc càng ngày càng sâu sắc và siêu nghiệm hơn để truyền đạt ý tưởng một cách mỹ thuật. Khi đã nhìn ra bản sắc của văn chương, sẽ dễ chia sẻ sự thay đổi của văn học: Vốn chỉ là những khúc quanh tự nhiên và tự động của dòng sông chảy về biển rộng.

"Công việc của chúng tôi không phải cung cấp thực tế, mà để phát minh những ám chỉ có thể hiểu, nhưng không thể trình bày." (Jean Francois Lyotard.)

Hậu Hiện Đại chỉ là một khúc quanh của dòng văn chương thế giới, nhưng là một khúc quanh lớn, bao chứa nhiều dòng lý thuyết, phong trào văn học khác nhau. Có ba cách nhìn Hậu Hiện Đại: 1- Những sáng tác trong thời hậu Hiện Đại mang khuynh hướng Hậu Hiện Đại. 2- Những sáng tác theo những học thuyết nằm trong phạm vi của phong trào Hậu Hiện Đại. 3- Những sáng tác trong nỗ lực bày tỏ tinh túy của Hậu Hiện Đại như một chủ nghĩa. Không có trường phái Hậu Hiện Đại.

Điểm nên xác định ngay lúc này là tiến trình thành hình của một trào lưu văn chương theo cấu trúc văn học. Trước tiên, phải xác nhận, bất kỳ một trào lưu văn chương nào đều có nguồn gốc kế thừa từ trước đó, có khi rất xa xôi trong nhiều thế kỷ. Từ nguồn gốc này do những nguyên nhân xa gần của môi trường hiện sinh (hiện hữu sinh tồn) nẩy sinh sự thay đổi. Khởi đầu là 1- Khuynh hướng sáng tạo: Sáng tác luôn luôn là sáng tạo theo một khuynh hướng văn chương nào đó. Những tác giả lớn thông thường có khuynh hướng sáng tạo khác lạ hoặc biến dạng những khuynh hướng đã có, để tạo ra nét độc đáo riêng. Khi một khuynh hướng mới được đánh giá cao, được nhiều tác giả và độc giả tham gia, sẽ trở thành phong trào. 2- Phong trào văn chương: Có phong trào dấy lên từ một khuynh hướng quan trọng. Có phong trào góp lại từ những khuynh hướng đồng dạng hoặc tương tựa. Nghĩa là, nhiều tác giả ở nhiều nơi khác nhau, không quen biết, không hẹn hò, nhưng cùng sống trong một thời đại, cùng nảy sinh những ý tưởng giống nhau, cùng sáng tác trong những khuynh hướng tương đồng. 3- Chủ nghĩa văn học: khi phong trào có học thuyết tư tưởng, có luận lý sinh hoạt, có học thuật thực hành, nó trở thành chủ nghĩa. Nếu chủ nghĩa này tinh thuần hơn trong một nhóm tác giả, có quy luật và nguyên tắc, sinh hoạt gần gũi và chặt chẽ, sẽ tạo thành trường phái.

Như vậy, Hậu Hiện Đại cũng phát triển từ khuynh hướng cho đến phong trào và ngập ngừng nơi tranh luận chủ nghĩa. Chính vì thiếu phân định rõ ràng mà các học giả tranh cãi về thời điểm xuất hiện và chấm dứt của Hậu Hiện Đại theo mỗi lập luận khác nhau. Nếu Hậu Hiện Đại bắt đầu từ khuynh hướng thì rất xa, thế kỷ 19. Nếu bắt đầu từ phong trào thì rất gần, 1950. Nếu chấm dứt bằng chủ nghĩa thì cuối thập niên 80. Nếu chấm dứt bằng phong trào thì kéo dài thêm thập niên 90. Nếu chấm dứt bằng khuynh hướng thì không bao giờ. Như Chủ nghĩa và phong trào văn chương Lãng Mạn đã quá cố từ lâu, khuynh hướng lãng mạn vẫn tràn đầy trong thơ văn đương đại.

Hậu Hiện Đại là phong trào văn chương tập hợp nhiều học thuyết văn học, phong trào văn chương, khuynh hướng sáng tạo có đồng cơ sở: Nghi vấn. Tái xét những niềm tin, những ưu điểm của các nền văn học trước đó. Mùa Mưa Gai Sắc, truyện ngắn của Trần Vũ được sáng tác sau giai đoạn văn chương bùng nổ của các học phái thuộc về Hậu Hiện Đại trong thập niên 70. Đặt nghi vấn về lịch sử, tái xét những góc cạnh anh hùng, công danh, tình yêu, thù hận qua tâm lý các nhân vật. Dù tác giả vô tình hay cố ý, quan điểm, ý nghĩa và học thuật của Mùa Mưa Gai Sắc trùng hợp học thuyết và học thuật của một thể loại truyện thịnh hành trong phạm vi Hậu Hiện Đại, gọi là Truyện Lịch Sử Tái Lập (Historiographic Metafiction), một thể loại trong truyện Tự Thức (Metafiction.) Có thể nhận định rằng, Mùa Mưa Gai Sắc là truyện ngắn được sáng tác trong khuynh hướng Historiographic Metafiction, được thành hình trong khí hậu chung của phong trào Hậu Hiện Đại. Không hoàn toàn cưu mang mọi yếu tố đặc thù của học thuật, nhưng đạt được nghi vấn và ý định tái xét lịch sử, chính là căn bản chủ yếu của phong trào này.

Truyện ngắn Người Chết Trôi Đẹp Trai Nhất Thế Giới của Gabriel Garcia Marquez sáng tác năm 1968, dịch sang Anh ngữ năm 1972, trong tuyển tập Leaf Storm and Other Stories. Ông là một trong số tác giả chính thức thuộc về phong trào văn chương Magic Realism của Châu Mỹ Latin, chủ trương hư cấu những tưởng tượng từ thực tế một cách huyền ảo. Cơ sở của phong trào Hóa Ảo Hiện Thực là nghi vấn giá trị mô tả, tường thuật, và ý nghĩa thật sự của thực tế. Căn bản nghi vấn về siêu nhiên, về đời sống, về con người, về giá trị văn chương là tiêu chuẩn để đưa phong trào này vào phạm vị Hậu Hiện Đại. "Hóa ảo" chỉ là nghệ thuật truyền đạt. Truyện ngắn này đưa ra những nghi vấn về sự trung thành, tiêu chuẩn luân lý của phụ nữ đối với chồng và đàn ông trong mơ tưởng của họ. Xuyên qua đó là tái xét ý nghĩa của con người "hóa ảo" Thượng Đế. Tóm lại, văn chương của Marquez thuộc về phong trào Hậu Hiện Đại. Trong khi đó, văn chương của Julio Cortázar có thể giả định thuộc về Hậu Siêu Thực (Postsurrealism).

Không lẽ những gì ít hiện thực hoặc siêu hư cấu đều là sản phẩm của Hậu Hiện đại?

Thơ và truyện là hư cấu. Cho dù tác giả nào nỗ lực mô tả đối tượng thực tế như thực tại, vẫn là một thực tế trong tâm thức (Hiện Tượng Luận). Mỗi văn bản văn chương đều nằm trong công thức: Hiện Thực (HT) + Hư Cấu (HC) = Giá Trị Sáng Tác. Nếu giá trị sáng tác = 100%, hai biến số HT và HC thay đổi nghịch chiều. Nếu HT ít thì HC nhiều. Nếu HT nhiều thì HC ít. Mỗi văn bản văn chương đều hòa hợp HT và HC trong công thức này, tùy vào sự chọn lựa theo mục đích của tác giả và nhu cầu của văn bản. Mỗi học thuyết, mỗi phong trào, mỗi khuynh hướng sáng tác và mỗi tác giả đều được xác định phần trăm của HT và HC. Khuynh hướng chung trong văn chương thế kỷ 18-19 nặng hiện thực, nhẹ hư cấu. Khuynh hướng chung văn chương Hậu Hiện Đại nặng hư cấu, nhẹ hiện thực. Truyện Siêu Hư Cấu (Surfiction) tiếp cận 100% tưởng tượng. Sự chọn lựa nặng nhẹ là nghệ thuật sáng tác của mỗi tác giả và là niềm tin về ý nghĩa sự thật trong mỹ thuật truyền đạt. Đa số thơ truyện Hậu Hiện Đại có hư cấu áp đảo hiện thực, nhưng không phải là yếu tố chính để sắp xếp thể loại. Thơ văn nặng hiện thực với những yếu tố đặc thù của văn chương Hậu Hiện Đại vẫn là thơ văn hậu Hiện Đại.

Tiểu sử tôi sẽ chôn vào đất,

hóa cũ lặng im,

như cá sấu nín thinh không hổ thẹn.

(Soneto. Federico Garcia Lorca.)

Tôi vẫn thường xuyên kiểm soát thơ của tôi trong tinh thần kiểm chứng những giả định và giả thuyết văn học. Tôi không tin vào sự bất tử của văn bản. Khi người đọc còn nhớ ý nghĩa và giá trị của tác phẩm, tác phẩm đó tiếp tục hồi sinh. Khi không còn ai nhớ, tác phẩm đó chỉ là xác ướp trong thư viện, hoặc bia đá trong nghĩa trang văn học. Bất kỳ là tác phẩm văn chương nào sẽ có một ngày không còn ai đọc. Dù kinh Thánh, kinh Phật luôn luôn có người đọc, nhưng họ không phải độc giả, là tín đồ.

Tôi cũng không tin sự hoàn hảo của tác phẩm trong văn chương. Sự hoàn hảo này chỉ mang lại cho người sáng tác càng lúc càng hoang tưởng trầm trọng. Nhưng tôi tin vào văn học, vì văn học tạo cơ hội cho những thế hệ tương lai sáng tác hay hơn, cao hơn, tiếp cận với sự thật hoặc "không sự thật" hơn. Tôi tin vào độc giả tương lai. Chính họ mới là những người xác định khách quan và tiếp cận chính xác giá trị của tác phẩm.

Không đặt niềm tin vào văn chương bất tử và tác phẩm hoàn hảo, sáng tác không còn kỳ vọng bởi ảo tưởng, mà chuyên chú vào phẩm chất. Tập trung vào việc thực hành niềm tin đối với bản sắc văn chương.

Trong tinh thần đó, từ lúc bắt đầu làm thơ, cuối thập niên 1970, cho đến hôm nay, thơ của tôi chỉ là thử nghiệm. Không phải là những sáng tác có mục đích trăm năm. Tôi quan tâm giá trị của bài thơ ít hơn chú trọng giá trị chứng minh của bài thơ đó đối với giả thuyết văn học mà tôi tìm kiếm hoặc thực tập để biến kiến thức thành kinh nghiệm.

Ví dụ, từ lâu, tôi cho rằng bài thơ quan trọng nơi tứ thơ. Tứ thơ quan trọng nơi hình ảnh. Dĩ nhiên là hình ảnh trung thực từ suy tư và cảm xúc, dù chỉ để ẩn dụ. Nếu những hình ảnh này do nỗ lực tạo hình để gây sôi nổi hoặc thuyết phục, tự nhiên sẽ hời hợt, không có gốc rễ, sẽ nhanh chóng bay theo cơn gió nhẹ. Nhưng rồi tôi khám phá ra, cho dù cố gắng cách mấy, những hình ảnh, tứ thơ cũng không thể diễn đạt hết điều muốn nói. Muốn gợi ý hoặc điềm chỉ cho người đọc, cần thêm không khí và bối cảnh hỗ trợ cho hình ảnh và tứ thơ. Tôi đi đến giả định, dùng truyện làm nền để đưa người đọc vào thơ:

Bà làm nghề đổ rác thành phố 45 năm. Mười mấy mùa đổi tuyến một lần, bà đi khắp hang cùng ngõ hẻm.

Rác cũng kỳ thị trắng đen vàng đỏ, sạch dơ thơm thúi, cẩn thận ẩu tả tự trọng. Khốn nạn nhất khi bỏ đinh, kính bể, mảnh cắt không gói bao.

Thực phẩm rác nuôi được quốc gia nghèo. Đồ chơi rác, ông già Noel có thể dùng lại. Đồ phế thải sửa chữa mới toanh đầy chợ trời. Rác xay rồi vẫn cao như núi.

Rác biểu trưng nhu cầu thỏa mãn, tàn tích sung sướng dư thừa, tàn cuộc thông minh trí tuệ, là phản bội ghê tởm của tâm tư.

Mùi rác kinh dị.

Mặt rác buồn vô tả.

Lòng rác ngang ngửa lòng chính trị gia.

Đời rác hơn đời người, vì không hiểu biết.

Sâu rác trắng mập không bằng sâu người.

Sâu rác thành ruồi, sâu người tưởng thành bướm, chỉ là ruồi lớn, hóa trang màu sắc.

Lẽ ra, rác phải cảnh cáo người.

- Đừng khi dể tao, chết rồi mày cũng rác.

Còn mày, sống như vậy, không phải rác sao?

Nhìn thùng rác, đoán gần đúng tính tình dân tộc, ông hàng xóm nói. Bà không tin. Chỉ phân biệt thùng nặng hay nhẹ. Cần nín thở hay không. Hoặc xoay mặt hướng khác.

Lạ thật. Giống dân này ăn thứ gì, thùng rác họ đầy dòi.

(Không Phải Rác Sao?)

Tôi tin rằng những ai sáng tác vì văn học sẽ phải thử nghiệm liên tục cho đến cuối cuộc đời. Vì vậy, tôi tin những độc giả tương lai của tôi, sẽ có người đạp lên những thử nghiệm hôm nay để cống hiến cho văn chương Việt những tác phẩm giá trị sắp vào hàng thế giới. Tôi tin khả năng tài giỏi của thế hệ trẻ, thế hệ mai sau và những tiến bộ văn minh không thể ngờ, sẽ cho họ nhiều cơ hội bay cao bay xa, không mắc kẹt trong thế giới hạn hẹp, tự giam cầm như thế hệ của tôi. Thơ của tôi không có môn phái vì còn thử nghiệm. Hoặc nói một cách văn hoa hơn, là những lời suy tư ngập ngừng của một người thất lạc.

Đi sai đường / sẽ đến nơi ngập tuyết,

đến nơi ngập tuyết,

là bao năm gặm cỏ tha ma.

(Pequeno Poema Infinito. Federico Garcia Lorca.)

Trước đây người ta nói văn là người. Bây giờ, nên nói, văn hay là của người có nhịp sống đương đại và có trí tuệ ngày mai. Hậu Hiện Đại là tên gọi chung cho một thời kỳ thay đổi từ xã hội đến tư tưởng. Có nhịp sống và sắc thái sống khác hẳn thời Hiện Đại. Từ quan điểm siêu nhiên nhất: Thượng Đế ngày xưa toàn năng và quản trị con người. Thượng Đế hậu Hiện Đại hoặc đã chết, hoặc vắng mặt, hoặc chỉ là hình tượng. Dẫn đến sự tái xét giá trị sinh tồn. Thơ văn Hậu Hiện Đại mang ba yếu tính: 1- Ghi nhận lại nhịp sống và bản sắc của hiện sinh. 2- Mở rộng, khám phá tận cùng nỗi hoài nghi để tìm thấy điều gì khác cho ngày mai. 3- Giải trí người đọc như những viên thuốc bổ giảm căn bệnh trống rỗng và nhàm chán. Đọc thơ văn của một người sáng tác hôm nay, có thể thấy ngay họ đang sống ở nhịp sống thuộc thập niên nào. Có thể thấy ngay thái độ văn chương và trình độ thẩm mỹ. Có thể thấy ngay học thuật của họ tinh thông ra sao. Thơ văn đúng nghĩa là phong thái của nhịp sống thời đại. Nếu tác giả vắng mặt trong thời đại họ đang sống, tất nhiên, văn thơ của họ cũng vắng mặt.

Chúng ta đã thông qua thời Hậu Hiện Đại, đang ở thời đương đại, thế kỷ 21. Biết bao nhiêu đổi thay thăng trầm từ khi thơ hiện diện trong hang động cho đến thơ xây nhà trên không gian. Vậy mà nhu cầu và mục đích đầu tiên vẫn không thay đổi. Nhu cầu thốt lên những lời tốt đẹp với mục đích làm cho hôm nay và ngày mai tốt đẹp hơn, vẫn không thay đổi. Tuy nhiên, dọc theo dòng lịch sử văn chương, biết bao nhiêu người đã "đi sai đường, sẽ đến nơi ngập tuyết. Đến nơi ngập tuyết, là bao năm gặm cỏ tha ma..."

(Còn tiếp)

Thư mục bộ sách Ý thức Sáng tác của Ngu Yên

Trên Kệ Sách Amazon: Amazon.com. Search: Gõ vào tựa đề sách, không dùng dấu. Type in the title.

1. “Ý Thức về Dịch Thuật”. Biên khảo về dịch thuật, dịch thơ.

2. “Độc Quạnh” Thơ. Từ giã dòng thơ cũ.

3. “Tôi Không Biết”. Tập 1 &2. Giới thiệu, nhận định, dịch toàn bộ thơ Wislawa Szymborska. Nobel 1996.

4. “Học Thuyết Truyện Ngắn Hiện Đại”. Cuốn 1 của bộ sách Ý Thức Sáng Tác Truyện.

5. “Học Thuật Truyện Ngắn Hiện Đại”. Cuốn 2 của bộ sách Ý Thức Sáng Tác Truyện.

6. “Văn Học Truyện Hậu Hiện Đại”. Cuốn 3 của bộ sách Ý Thức Sáng Tác Truyện.

7. “Văn Học Truyện Đương Đại”. Cuốn 4 của bộ sách Ý Thức Sáng Tác Truyện.  (Chưa phát hành)

8. “Ý Thức Sáng Tác Truyện Ngắn Hiện Đại”. Bộ 1.

“Ý Thức Sáng tác Truyện Hậu Hiện Đại và Đương Đại.” Bộ 2. ( Chưa phát hành.)

9.  “Tôi Học Được Bí Mật Của U sầu. Tập 1.  Thơ Federico Garcia Lorca.” Tái tác và tái bản.

“Mộ Phần Tôi Ở Đâu?. Tập 2.  Thơ Federico Garcia Lorca.” Tái tác và tái bản.

https://www.amazon.com/s/ref=sr_st_date-desc-rank?rh=n%3A283155%2Cp_27%3ANgu+Yen&qid=1514468153&sort=date-desc-rank

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 7): Một cái gì rất Nguyễn Xuân Hoàng: Sổ tay

Trần Doãn Nho

NGUYEN XUAN HOANG 1“Đừng để tờ Văn chết!” Mai Thảo nói với Nguyễn Xuân Hoàng như thế.

Văn sống lại. Một đời sống khác.

Nguyễn Xuân Hoàng (NXH) nhận Văn từ Mai Thảo vào giữa năm 1996. Một trong những yêu cầu của Mai Thảo là giữ nguyên mục Sổ Tay vốn do Mai Thảo viết từ ngày ông tái bản Văn ở hải ngoại. Lúc đầu, NXH không đồng ý, muốn đổi thành Ghi Chép, nhưng chiều ý của Mai Thảo, bốn số tiếp theo 160, 161, 162 và 163 cho các tháng Chín, Mười, Mười Một và Mười Hai, 1996 do NXH làm chủ biên vẫn có mục Sổ Tay. Nhưng rồi với sự giúp sức và đóng góp nhiệt tình từ bạn bè và văn hữu, đầu năm Đinh Sửu (1997), Văn đổi sang bộ mới, được đánh từ số 1, số Xuân Đinh Sửu: Văn của Mai Thảo trở thành Văn của Nguyễn Xuân Hoàng. Và khác với ý định ban đầu, NXH vẫn duy trì “Sổ Tay”. “Đó là lúc tôi đã tìm một cách viết sổ tay của tôi”, anh cho biết. (Văn tháng 8/2004). Và Sổ Tay NXH đã đi song hành với Văn từ lúc đó cho đến ngày tự ý đình bản.

Lúc này đây, trong khi nghĩ đến NXH, đang ở cách tôi những ba múi giờ, không thể trực tiếp đến thăm anh được, tôi tìm gặp anh qua Văn. Những Văn, cuốn dày cuốn mỏng, có cuốn một tháng có cuốn ghép đôi hai tháng, đẹp nhất là hình bìa. Mỗi bìa là một tấm tranh, toàn là tranh có hạng. Cầm những Văn trên tay, tôi nhìn thấy công lao của một NXH đối với văn học. Tất cả, từ bìa đến “ruột”, tạo thành một thứ “chỉnh thể thẩm mỹ”, một chỉnh thể mà thấp thoáng đàng sau là cá tính của người chủ biên, theo cách nói của Nguyễn Hưng Quốc [1]. Và với Sổ Tay, cá tính người chủ biên càng hiện rõ nét hơn, đầy đặn hơn. Qua Sổ Tay, NXH xuất hiện như một chân dung tươi, sống, đa dạng. Sổ Tay viết về người, về vật, về sự, về những chuyện linh tinh, lỉnh kỉnh. Viết ngay. Viết liền. Viết y như thể chúng như thế, ở đây, lúc này. Không thể khác. Đọc Sổ Tay như đọc lại cả một quảng đường, thậm chí cả một giai đoạn văn học, tìm lại được những khuôn mặt tưởng chừng như không còn hiện hữu, tìm lại những cảm giác tưởng chừng đã biến mất, tìm lại những ý nghĩ tưởng chừng như tan loãng trong thời gian.

Sổ Tay tràn đầy thao thức. Thao thức người. Thao thức chữ.

Sổ Tay trước hết là sự kiện: xã hội, văn học, chính trị, bóng đá, thời tiết, ra mắt sách, tác phẩm mới, tác giả mới, phim mới… Lan man. Tản mác. Rời rạc. Nhưng đầy hơi thở, đầy hiện thực: gặp bạn bè ở Paris, ở Houston, ở Sài Gòn, lụt ở miền Trung năm 1999, ra mắt sách người này ngưòi nọ, những người bạn đến thăm, nhũng người bạn đau, những người bạn qua đời, những chuyến đi, Đức Đạt Lai Lạt Ma ở quận Cam, những tác phẩm vừa xuất bản, cảm giác về những ngày mưa, ngày nắng, ngày tuyết, về giải bóng đá thế giới, về chuyến đi của Clinton sang Tàu, vân vân…

Văn học miền Nam 54-75 (468): Ngô Thế Vinh (12)

VÒNG ĐAI XANH (KỲ 6)

CHƯƠNG MƯỜI LĂM

Đó là một ngày tang tóc và đầy thảm họa cho những người lính Mũ Xanh ở Á châu. Cùng một ngày hai chuyến Air America bị rơi, một trên Cánh Đồng Chum với toán mười bốn người lính Mũ Xanh được coi như mất tích, còn chiếc hai máy kia bị hạ ở Bắc Miến có lẽ bởi súng phòng không từ dưới đất. Lại một xì-căng-đan mới bùng nổ giữa Rangoon và tòa Bạch ốc. Chánh phủ Miến cực lực lên án và tố cáo những phi vụ lén lút của Mỹ nhằm yểm trợ tiếp tế cho các dân tộc thiểu số ly khai ẩn náu ở trong những khu rừng rậm ở Bắc Miến. Một lần nữa Mỹ bối rối không biết phải xử trí ra sao. Thỏa mãn yêu sách công khai xin lỗi, bộ Ngoại giao Mỹ có thể làm dễ dàng nhưng nếu vậy là chánh thức xác nhận âm mưu khuynh đảo chánh phủ hợp pháp Miến và hậu quả ngoại giao sẽ không biết là thế nào. Mẩu tin rất nhỏ chìm đắm giữa bao nhiêu biến cố quốc nội khác nhưng với nhà báo như tôi lại có một giá trị khám phá đầy ý nghĩa về câu chuyện một Vòng Đai Xanh bao vây Hoa Lục. Tôi dần dà đi tới một cái nhìn khá chuẩn xác về tầm quan trọng của những biến chuyển tại cao nguyên trong một tương quan quốc tế rộng lớn. Hiểu như vậy tôi sẽ tránh được những phản ứng sôi nổi và đầy cảm tính khi phiêu lưu vào cuộc tìm kiếm ý nghĩa của những biến động mới.

Vấn đề là mọi cấp đều có vấn đề

(Rút từ facebook của Chu Mộng Long)

Trước hết, các dự án đổi mới của Bộ rất có vấn đề. Dự án này chồng chất lên dự án kia, tiêu ngốn hàng ngàn ngàn tỉ nhưng gần như chưa có tổng kết, đánh giá đúng hiệu quả dự án. Cho nên dù thất bại mà vẫn không rút ra được điều gì, cứ nhắm mắt làm tới.
Thứ hai, các lãnh đạo Sở, Phòng giáo dục rất có vấn đề. Từ giám đốc Sở, Phòng đến chuyên viên Sở, Phòng cứ máy móc chỉ đạo áp dụng cái mới mà không phản biện, không sáng tạo, ép giáo viên làm theo mà không cần biết hiệu quả.

"Khóc cây" và sự nhân bản, rung cảm với thời cuộc

Bằng một trái tim mẫn cảm với thời cuộc của người nghệ sỹ, "Khóc cây" là những dòng thơ đau đớn và bất lực mà Ly Hoàng Ly viết ra trong một đêm đi dọc suốt con đường Tôn Đức Thắng (quận 1, TP.HCM), ngày 16.1.2018. Thời gian này, con đường này đã trở nên trống hoang hoác, xa lạ với đa phần người dân thành phố; với những gốc cây cổ thụ cụt, và một bông hồng mà người dân nào đã đặt lên nó.

Năm 2016, khi một lần nữa rộ lên thông tin 258 cây xanh trăm tuổi trên đường Tôn Đức Thắng bị đốn hạ, Ly Hoàng Ly cùng nhiều bạn trẻ đã lặng lẽ trình diễn tại đây một buổi nghệ thuật trình diễn “Ôm cây – Ôm người ta yêu thương – Ôm chính mình”.

Con đường khi ấy trở thành bảo tàng không gian sống/phòng triển lãm ngoài trời cho các phẩm này. Khối hình người ôm cây là installation (tạm dịch: nghệ thuật sắp đặt). Thời gian triễn làm là toàn bộ thời gian ôm 300 cây.

Dự án này đã được khởi xướng từ năm 2015, trong ba ngày liên tiếp của tháng 3 – khi Hà Nội công bố chặt 6.700 cây xanh.

“Tôi tin rằng khi quy hoạch thành phố, nếu coi trọng việc bảo tồn cây xanh và các di sản xung quanh, thì chính quyền sẽ giải được bài toán vừa giải quyết được việc kết nối giao thông với Thủ Thiêm, vừa không phải triệt hạ cây như vậy”, Ly Hoàng Ly nói.

Như Người Đô Thị đã từng đặt vấn đề thời gian qua, việc chặt 258 cây cổ thụ trên đường Tôn Đức Thắng để làm cầu Thủ Thiêm 2 chưa được dựa trên một chiến lược tốt. Theo TSKH-KTS Ngô Viết Nam Sơn, chuyên gia kiến trúc và quy hoạch, nếu không làm cầu Thủ Thiêm 2 cao và rộng như hiện tại, thành phố có thể giảm được ít nhất ½ số lượng cây phải chặt, di dời; thậm chí có thể tránh được việc chặt cây.

Theo nhiều chuyên gia khác, đây cũng không phải là một lời giải pháp giao thông phù hợp trong nội thành.

Một phương án khả thi hơn hoàn toàn có thể tìm ra, nếu thành phố có một độ lùi để giải quyết. Bởi bài toán cầu Thủ Thiêm 2 không chỉ cần được nhìn ở góc độ kết nối giao thông, mà còn cần nhìn ở góc độ quy hoạch đô thị, bảo tồn, hiệu quả kinh tế,...

Người Đô Thị trân trọng giới thiệu bạn đọc bài thơ của Ly Hoàng Ly. Nghệ thuật không đâu xa, đó không chỉ là tiếng lòng của người dân, mà là sự nhân bản, rung cảm với xã hội - thời cuộc…

Lê Quỳnh

clip_image001

Hàng cây cổ thụ trên đường Tôn Đức Thắng, ký ức của nhiều người Sài Gòn đã bị đốn hạ để làm câu Thủ Thiêm 2. Ảnh: Võ Lâm

clip_image002

Một bông hồng mà người dân nào đó đã đặt lên gốc cây bị bức tử. Ảnh: Lê Thanh Quý

Khóc cây

Tôi ngước lên cao
Bầu trời thủng
nghĩa trang
Thất thểu
***
Phẫn nộ - những chồi xanh nhỏ nhoi
Vẫn biếc bên gốc cây cổ thụ bị ép chết tức tưởi
Những chồi xanh nhỏ nhoi vẫn biếc – phẫn nộ
quanh phần còn lại của cơ thể khổng lồ khỏe mạnh vừa bị cắt cụt
Vẫn biếc – phẫn nộ - những chồi nhỏ nhoi xanh
niềm tin nào sáng rực trong đêm
***
Tôi ngước lên cao
Bầu trời màu chì ôi
Cảm thấy mười dòng lệ tứa ra từ mười đầu ngón chân
Xoắn vào những mẩu rễ trăm năm trồi lên mặt đất
***
Này các anh xẻ cây xanh
Các anh đâu vui, đúng không?
***
Này các anh vẽ cây cầu bắc qua giấc mộng tương lai
Các anh không mừng đâu, nhỉ?
***
Cắt phăng trăm năm cần bao nhiêu công?
Cần bao nhiêu máy móc thiết bị?
Nói cho tôi nghe
Để tôi viết vào sổ tay lịch sử
***
Bầu trời thâm tím sưng vù vì ứ nước không khóc ra được
Không thể khóc được
Vừa đi vừa hụt
hẫng
***
Cơn mưa đâu sao không xuống
Thấm cho mềm cơn đau
***
Con đường nghẹn cái chết không xác và thân thể tàn tật
Vài nhánh lá tê liệt không còn sức rì rào thở than
Những hố bom không rên rỉ
***
Cơn mưa đâu sao không xuống
Rửa màu máu xanh lênh láng khắp không trung khắp không khí tôi đang thở
Tôi còn đang thở không?
***
Người ta khoét thịt bầu trời
Người ta moi tim mặt đất
Người ta xẻ linh hồn phố trăm năm
***
Vừa đi vừa thảng thốt:
Tim tôi bị thủng nhiều lỗ
Nhưng tôi vẫn đi được!
Chắc tôi đã hóa thành cỗ máy chạy bằng nhiên liệu có tên bất lực
***
Mọi người và tôi đi trong nghĩa trang không bia mộ
Ô tô xe tải
Xe gắn máy
Xe đạp
lừ lừ chúng tôi những cái xác
ướp bảo tàng diệt chủng bằng chất liệu thờ ơ
***
Giao thông vẫn cứ giao thông
lừ lừ đi vào ngày mai
Trong bia mộ khổng lồ
***
Này anh chị em, có phải tất cả chúng ta đã chết rồi
Ai xẻ tâm trí chúng ta ra
Ai đào tâm trí chúng ta lên
Ai phủ đất lên tâm trí chúng ta?
chằng chịt rách
sâu hoắm
u mê
***
Nhìn pháp trường hành quyết những tiền nhân đương xanh um vào mỗi nửa đêm
Bầu trời Tôn Đức Thắng
hoang hoác
Nước mắt trở nên hèn hạ quá
Nên không khóc đâu
Không khóc đâu
Không
khóc
***
Sài gòn – Tôn Đức Thắng
Ly Hoàng Ly (khuya 16.1.2018)

Ly Hoàng Ly hiện là biên tập viên NXB Trẻ; nhà thơ; đoạt nhiều giải thưởng văn học; theo học Học viện Mỹ thuật Chicago (Hoa Kỳ) với học bổng Fullbright cho chương trình thạc sĩ mỹ thuật; thực hiện nhiều triển lãm nhóm, trình diễn, sắp đặt trong và ngoài nước...

Nguồn: http://nguoidothi.net.vn/khoc-cay-va-su-nhan-ban-rung-cam-voi-thoi-cuoc-12337.html

Một đời thủy chung

Truyện Nguyễn Ngọc Hoa

Tháng Giêng 2005, tôi có việc về Sài Gòn sau gần ba mươi năm bỏ nước ra đi. Trước khi tôi lên đường, mẹ gọi điện thoại dặn dò,

“Cây có cội, nước có nguồn. Đã về bên mình, con ra ngoài làng một chuyến”.

“Con chưa tính...”, tôi lưỡng lự.

“Con lạy bàn thờ tổ tiên, viếng mồ mả ông bà, và thăm cậu Các giùm mẹ”, mẹ khẩn khoản.

Tôi không thể từ chối. Quê hương là nơi mẹ luôn luôn yêu quý thiết tha dù đã rời xa hơn nửa thế kỷ. Với đồng lương hưu ít ỏi, mẹ chắt chiu dành dụm từng đồng, mỗi năm năm bảy lần gửi tiền về biếu bà con, sửa sang nhà thờ họ, và trùng tu mồ mả tổ tiên. Mẹ ước nguyện khi qua đời được hoả táng và di cốt rải trên dòng sông Nhật Lệ ở quê nhà. Mẹ khuyến khích:

Ngoài mình có động Phong Nha là kỳ quan thiên nhiên lớn và đẹp nhất thế giới, đưa con Châu đi cho biết”.

Đánh trúng tâm lý thích viếng thắng cảnh của Châu, vợ tôi, mẹ nói thêm:

“Tuần trước thằng Giáng gọi điện thoại qua, mẹ dặn hắn thu xếp cho hai đứa bây ở khách sạn ngoài cửa sông Nhật Lệ. Khách sạn nớ (đó) của hắn, đừng lo”.

Năm nay trên tám mươi tuổi, anh Giáng là trưởng tộc và thuộc hàng anh tôi, gọi mẹ bằng mự (thím). Những cú điện thoại hàng tháng không ngoài mục đích xin tiền, nhưng đối với mẹ là sợi dây liên lạc với bà con thân thuộc nơi chôn nhau cắt rốn.

Đã đến lúc lên ngôi của Văn hóa và Tri thứcVấn

Hà Thủy Nguyên

“Văn hóa là hoạt động của tư tưởng, và sự thụ nhận cái đẹp và tình cảm con người. Nó không liên quan gì đến việc nắm bắt những mảnh thông tin rời rạc. Một người chỉ đơn thuần có nhiều thông tin là kẻ lắm chuyện vô dụng nhất trên đất của Thượng Đế. Điều mà chúng ta nên hướng đến là tạo ra những người vừa có văn hóa, vừa có tri thức chuyên môn trong chiều hướng đặc biệt nào đó. Tri thức chuyên môn của họ sẽ mang lại cho họ nền tảng để xuất phát, và văn hóa của họ sẽ dẫn dắt họ vào sâu thẳm như triết học và thăng hoa như nghệ thuật”

Trích sách “Những mục tiêu của giáo dục và các tiểu luận khác” – Alfred North Whitehead (Hoàng Phú Phương, Tiết Hùng Thái, Hà Dương Tường dịch)

Đã từ lâu ở Việt Nam, hệ thống giáo dục và truyền thông xã hội không hề hướng tới việc tạo ra những người có văn hóa và cũng không hề tạo được những người có tri thức chuyên môn. Lối nói “thừa thầy thiếu thợ” là một biện minh xảo trá, bởi thực trạng ở Việt Nam đó là vừa thiếu thầy vừa thiếu thợ.

Nguyễn Viện, sĩ khí nhà văn miền Nam hôm nay

Du Tử Lê/Người Việt


clip_image001

Nhà văn Nguyễn Viện. (Hình: danluan.org)

clip_image002Khi giáo đường hân hoan giục giã với những hồi chuông trước Thánh Lễ cuối tuần, thì đó cũng là lúc những con bồ câu đem những dải nắng ấm áp đầu ngày, thả xuống khuôn viên nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn, cũ.

Ngồi quanh chiếc bàn tròn sắt ở một quán café đối diện, ngoài Nguyễn Quốc Thái, Huỳnh Như Phương, Trần Thi Ca và chúng tôi, còn có người đàn ông trung niên. Không cần tới một giới thiệu nào, dù ngắn, gọn, mọi người đều biết, đó là một nhà văn thuộc thế hệ thứ hai, sau biến cố Tháng Tư, 1975. Ông nổi tiếng như một người thường trực đối diện với những rình rập bất trắc mù lòa của đời thường. Hầu hết trên 10 tác phẩm ông đã ấn hành, đều bị liệt vào những đầu sách phản động, chống đối nhà nước hoặc, cổ võ tính dục. Tên ông: Nguyễn Viện.

-Ông đứng hẳn về… “lề trái?”

-Tất nhiên.

Chẳng những thế, ông còn có nguyên một tác phẩm lấy tên là “Ngồi Bên Lề, Rất Trái…”

Ông viết tác phẩm này sau hai năm tù không kêu án, và cho tới hôm nay, ông cũng không biết tội trạng của ông là gì. Tôi muốn nói, với những người dõi theo từng bước đường văn chương của họ Nguyễn, đều cho những năm, tháng tù đày, những năm, tháng không biết lấy gì bỏ vào bụng!

Nhà thơ Mỹ gốc Việt Ocean Vuong đoạt giải Thơ TS Eliot 2018


Phản chiếu hậu quả chiến tranh đối với 3 thế hệ, tập thơ đầu tay của chàng trai 29 tuổi, “Trời đêm với những vết thương chết người” (Night Sky With Exit Wounds) đã được một số giải thưởng trước đó (Forward, Thom Gunn). Nhà phê bình của báo Observer mô tả tập thơ là “một đường dẫn tới cuộc sống trong đó bạo lực và sự thanh tao đụng độ với nhau”.

Chủ tịch hội đồng giám khảo Bill Herbert gọi tác phẩm này là “sự khởi đầu chắc chắn không thể tranh cãi, sự tới đích rõ rệt của một giọng nói quan trọng”… “Có một sức mạnh không thể tin nổi trong câu chuyện… có bí mật nằm sâu trong cuốn sách nói về cái nghiệp truyền qua các thế hệ, kẻ di dân chấm dứt quan hệ với quá khứ của mình, với người cha và với tính dục của mình. Tất cả thể hiện rõ trong việc xây dựng hình ảnh thật khác thường. Cách nhìn thế giới của cuốn sách thật kinh ngạc”.

Độc lập và/hay Dân chủ?[*]

Lưu Trọng Văn

Chuyện 1

Tối qua tại một quán cơm Việt rất nổi tiếng Sài Gòn bên thố cơm vừa nhoẹt vừa sượng, gã chuyện đời với một đồng chí cộng sản... cụ. Gọi vậy vì đồng chí này có 60 năm tuổi đảng.

Cụ kể, năm 1960 chuẩn bị Đại hội đảng lần ba, cụ Hồ cho các đảng viên lấy ý kiến có nên đưa hai cụm từ Độc lập, Dân chủ vào Văn kiện Đại hội đảng không.

Chi bộ của cụ có 50 đảng viên, bỏ phiếu kín, 28 đảng viên đề nghị đưa từ Độc lập vào Văn kiện, 22 đảng viên đề nghị đưa từ Dân chủ vào Văn kiện.

Cụ kể, các chi bộ khác đa số đều đề nghị đưa từ Độc lập.

Tao, cụ xưng mày tao với gã, bỏ phiếu cho từ Độc lập vì hồi đó tao và hầu hết đảng viên tin rằng có Độc lập sẽ có tất cả mày ạ.

Gã xía vào, chả qua lúc đó xảy ra phong trào Nhân văn Giai phẩm đòi dân chủ nên các bác sợ cụm từ Dân chủ chứ gì?

Đúng là cơm sống mày ạ. Quán cơm VN nổi tiếng toàn khách Tây ăn vậy mà để cơm sống. Mà mày nói gì? Nhân văn Giai phẩm hả?

Tòa án gia đình?[*]

(Rút từ facebook của Đỗ Duy Ngọc)

ĐInh Thăng 

Thanh

Đất nước này lắm chuyện buồn cười. Toà án xử một vụ án lớn thâm lạm hàng chục ngàn tỷ đồng mà như một vụ xử trong một gia đình hay dòng họ. Trịnh Xuân Thanh xin lỗi “bác” Tổng bí thư, mong được xem như con cháu trong nhà ha…ha, rồi oà khóc. Lại tào lao xin được sang nước ngoài để sống cùng vợ con. Anh này nghĩ sao vậy trời!!!
Đinh La Thăng cũng khóc xin làm ma tự do chứ không muốn làm ma tù. Hê… hê đối tượng mà các anh cần xin lỗi là nhân dân chứ không là thằng cha nào khác. Số tiền các anh chia chác nhau ăn ngập mặt lâu nay, cùng nhau gặm từ trên xuống dưới là tiền của dân đen còng lưng, mướt mồ hôi và thấm cả máu chứ không phải của đảng nào, không phải của riêng của nhóm nào, cũng không phải là tài sản của cá nhân nào.

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 6): Bàn về những “nhân vật” của Nguyễn Mộng Giác

Trần Hữu Thục

downloadBày tỏ quan niệm sáng tác của mình, Nguyễn Mộng Giác nói rất rõ và rất cụ thể. Theo ông, tiểu thuyết “một thể loại văn chương nhằm thỏa mãn nhu cầu muốn ngóng chuyện thiên hạ của người đời. Người viết tiểu thuyết là người kể. Người đọc tiểu thuyết là người muốn nghe kể. Người kể chuyện, giống như ông thầy đứng trên bục giảng giảng bài cho sinh viên ngồi phía dưới, phải kể thế nào để người nghe hiểu được câu chuyện của mình, nghĩa là cả hai bên phải nói cùng một ngôn ngữ, dùng cùng một tần số cho tín hiệu phát và thu, có chung một trục qui chiếu của lý luận và phương cách diễn đạt. Mà theo tôi, căn bản của tiểu thuyết là chuyện thế sự, là chuyện con người và cuộc đời.” (Dẫn từ “Thảo luận về tiểu thuyết lịch sử/Nam Dao & Nguyễn Mộng Giác”, Văn Học Cali số 197, 2002; đưa lên Da Màu (damau.org) 9/9/2008)

Sinh thái học chiều sâu và Đạo học Trung Hoa

Nguyễn Thị Thúy Hạnh

Lịch sử phát triển của xã hội gắn liền với lịch sử khai thác sử dụng tài nguyên sinh vật phục vụ cho các nhu cầu ngày càng đa dạng, ngày càng cao hơn của con người, nhưng đồng thời, cũng kéo theo nhiều bất cập và ảnh hưởng nguy hại tới sinh thái. Xuất phát từ đó, tư tưởng về sinh thái, về mối quan hệ giữa con người với sinh thái ra đời và phát triển. Trong phổ hệ sinh thái nhân loại nói chung, tư tưởng sinh thái học chiều sâu và sinh thái luận Đạo học đồng quy ở nhiều điểm. Xét về mặt bản chất, sự ra đời của hai học thuyết này đều là một cách phản tư về xã hội, tự nhiên và tâm thái, tư tưởng thời đại.

1. Sinh thái học chiều sâu

1.1. Nguồn gốc và sự phát triển của sinh thái học chiều sâu

Từ thời kỳ công nghiệp hóa đến nay, nhân loại đã trải qua hơn hai trăm năm. Sự phát triển của khoa học, công nghệ nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển, nhưng bên cạnh đó cũng làm tăng quy mô khai thác tự nhiên, để lại những hậu quả nặng nề: hoàn cảnh môi trường toàn cầu bị phá vỡ, sinh thái tự nhiên bị đe dọa và hủy hoại. Đặc biệt là trong thế kỷ 21, những nguy cơ của môi trường sinh thái ngày càng trở nên nghiêm trọng và phức tạp: sự bùng nổ dân số, tài nguyên dần dần cạn kiệt, động vật quý hiếm bị tiệt chủng, tình trạng ô nhiễm, mất cân bằng sinh thái, trầm cảm tinh thần...ngày càng đe dọa đến sự sống trên trái đất. Trong bối cảnh này, tư tưởng lý luận về môi trường sinh thái của phương Tây vì thế mà nảy sinh. Cùng với nó, từ những năm 60 đến những năm 80 của thế kỷ XX, phong trào trở về với tự nhiên, phong trào bảo vệ môi trường trở nên phổ biến, điều này cho thấy vấn đề bảo vệ môi trường của con người trên thế giới được đặt ra ngày càng bức thiết.

Lí luận văn học Nga hậu xô viết (6)

Lã Nguyên


Chương III

TIẾN HÓA LUẬN CỦA TRƯỜNG PHÁI HÌNH THỨC NGA

VÀ DI TRUYỀN LUẬN CỦA O. FREIDENBERG

I. Mùa giáng sinh nghĩ về Trường phái hình thức Nga

1. Tôi có ba lí do để nghĩ về Trường phái Hình thức Nga vào tuần Giáng sinh này. Thứ nhất: Trường phái ấy được sinh hạ đúng vào một mùa Phục sinh, trước đêm Giáng sinh. Thứ hai: Phần di sản đến nay vẫn giữ nguyên giá trị của nó là hình thái học văn bản nghệ thuật và học thuyết về ý nghĩa cứu rỗi của “Lời”, về sự Phục sinh của tồn tại. Thứ ba: Nó được Phục sinh một cách mầu nhiệm sau khi bị đóng đinh câu rút và bị lãng quên liền liền mấy thập kỉ ngay trên quê hương mình.

Xin bắt đầu bằng câu chuyện về sự sinh hạ, trưởng thành rồi bị bức tử ở tuổi mười bảy của nó.

Niêm kín môi em

Vũ Thị Thanh Mai

clip_image002Tình yêu của Pablo Neruda qua "Hai mươi bài thơ tình yêu và một bài hát tuyệt vọng" là chất ngất rung động và giày vò. Tình yêu, khi đến, nhấn chìm: "Em nuốt tất cả mọi thứ, như khoảng cách/... Trong em tất cả mọi thứ đắm chìm!"; và cuối cùng xa rời một cách bí ẩn như khi đã đến, để lại trong tim "hố sâu của mảnh vỡ, hang động dữ tợn của tàu đắm."

Trong thi tập này, “Anh thích em lặng thinh" và "Đêm nay anh có thể viết những giòng buồn bã nhất" là hai thi phẩm tiêu biểu cho dòng thơ khắc khoải của Neruda sau cuồng nộ thân xác, được thâu vào đĩa nhạc dùng làm nền cho phim The Postman  [Người Phát Thư].

Phim kể lại thời kỳ lưu vong của Pablo Neruda trên một hải đảo ven miền Địa Trung Hải, về mối quan hệ giữa nhà thơ lừng lẫy với một người phát thư muốn học làm thơ, ban đầu để chinh phục người yêu, rồi qua thi ca khám phá các rung cảm của con người trước thiên nhiên, sau hết tìm đến những lý tưởng nhân bản mà hình ảnh tranh đấu của Neruda dẫn dắt. Người Phát Thư đoạt giải BAFTA for Best Film Not in the English Language [Giải phim hay nhất không nói tiếng Anh] và đĩa The Postman nhận giải thưởng Academy Award for Best Original Dramatic Score 1996.

Trời thu Lê Văn Trung

Tô Thẩm Huy


Trời thu của người thi sĩ tài hoa, đa tình ấy không có ở trần gian. Nó ở cõi nào trong 36 cung trời chư thiên tịnh độ, nào ai biết. Trên các cung trời Đao Lợi, Đâu Suất ấy, nơi mà chim, nước, cỏ cây, cảnh vật có là ngọc báu đẹp đẽ, nơi các chư thiên chỉ mới nắm tay nhau đã hỷ lạc tột cùng, e rằng có lẽ cũng chẳng xinh tươi, hứng thú hơn cõi trời thu của Đệ Nhất tài tử, thi nhân Lê Văn Trung.

Xin mời đọc thử trước mấy câu:

Nắng cứ thắp cho vàng lời thơ lụa

Cho vàng lời tình ái của trăm năm

Hoa sẽ thắm và môi tình thắm ngọt

Lá sẽ đùa trên mắt biếc long lanh

Môi và mắt và da ngời tỏa ngọc

Tóc và mây và gió dậy hương nồng

Cho tôi uống vẹn dòng tinh khôi ấy

Tôi ôm ghì khát vọng đoá nguyên xuân

Hay là:

Em về? Hay bóng mùa sương cũ

Trắng ngợp vườn xanh trắng diệu kỳ

Em về? Hay nắng hồng đang nở

Hay rừng ảo mộng chập chờn bay

Hay những mùa thu rất dị thường

Hay là mầu nhiệm của thanh xuân

Trịnh Y Thư: Say đắm bí ẩn với “Phế tích của ảo ảnh”

Phan Tấn Hải

clip_image002

Đi tìm ngôn ngữ mới của sáng tạo, trong khi lòng đầy các hoài niệm về quê hương, về một cuộc chiến đã trôi qua nhưng còn di lụy, về những người tình và những người bạn đã trở thành hình bóng trên mây… Từ vị trí đó, Trịnh Y Thư đã viết những dòng thơ – và như từ vị trí một người đứng chệch ra khỏi cõi này.

Thơ của anh là ký ức đau đớn, là những chữ viết được trân trọng chép xuống cho một cõi rất buồn, rất mực vắng vẻ, cho những gì như dường đã vuột ra khỏi bàn tay nắm giữ của con người, cho dù là anh làm thơ tiếng Việt hay tiếng Anh.

Mưa tháng chạp… mộng không thường

Tạp bút Vũ Hoàng Thư

Ngày tháng chạp trắng mơ sương lũng. Vệt nhớ quẹt ngang vẫy mặt, da diết lậm lừng trời. Ngây chao trong buổi sáng lạnh có mây hồng. Cơn gió thoảng mang mang ngày ấy, hải tảo ươm vàng, một thời rất xa. Khứu giác nồng toang ngái dậy. Người sống với niềm rêu, ôm trọn bão ngời, rộn chồn cơn sóng. Rong rêu kết tinh ôm quá khứ quấn chặt giữa lòng. Mùi hương ngầm chứa từ không khí, âm nhạc giấu đâu đó ở thinh không. Cuối năm khơi mở muôn nghìn lắng đọng trong vạn điều nhấp nháy thực tại. Có lẽ xuân đang khua bước trong từng ngày dậy. Khép lại cửa kính bỗng thấy mình thành ốc đảo giữa lòng đời. Người nằm gọn trong khoang gió, hiu hiu biển rộng vòng quanh. Ngoài khung kính, thế giới là cuốn phim quay chậm, xa lạ và vô cảm. Người trôi trong tiếng hát. Adamo lấp lửng mở ngày, Marie La Mer, chào em biển khơi, hải âu xòa bay gọi đàn oang oác. Tiếng guitar búng từng chùm ba, âm bass gọi giật như đẩy xô theo bực cấp xuống dần, xuống dần. Tôi tìm thấy em dưới kia biển xa vời vợi, lạ lẫm mỹ miều, Je t'ai trouvée, étrange et belle. Đôi mắt xanh, chẳng phải Marie La Mer, của Nha Trang sâu hút lòng người. Dư âm trở về từ duyên hải, gọi đảo xanh và biển khơi. Ở phút này là khoảnh khắc rơi ngoài, ra khỏi đời thường để nghe những đợt ngầm của nhớ.

Đọc thơ Xàm Cú của Nguyễn Viện

Vũ Thành Sơn

Nhà thơ Nguyễn Viện vừa giới thiệu 34 bài thơ ngắn đặt dưới một tên gọi chung: thơ Xàm Cú. Một lần nữa với những bài thơ Xàm Cú này, Nguyễn Viện cho chúng ta thấy một năng lực sáng tạo mạnh mẽ và cách tân độc đáo của ông.

Nhưng trước hết, tại sao lại là Xàm Cú?

Xàm Cú làm cho chúng ta liên tưởng đến thể thơ haiku truyền thống của Nhật Bản. Cũng cùng một bố cục ba dòng, tuy nhiên Nguyễn Viện không hề tuân thủ theo quy tắc bó buộc của haiku về âm tiết, hình ảnh, chủ đề…, mà trái lại, ông tung tẩy, phóng túng với ngôn ngữ để chuyển tải một thứ nội dung mà ông (hay chính chúng ta?) coi là Xàm.

Hãy đọc thử một vài bài trích từ Xàm Cú.

Văn học miền Nam 54-75 (467): Ngô Thế Vinh (11)


VÒNG ĐAI XANH (KỲ 5)

CHƯƠNG MƯỜI HAI

Tôi trở về với ý nghĩa một chuyến đi vô ích. Ông chủ nhiệm cho biết thiên điều tra cao nguyên phải chấm dứt tức khắc. Tòa báo gặp nhiều khó khăn không những trên Thông tin mà cả ở cơ quan An ninh. Giấy gọi lên An ninh phải được hiểu là một cảnh cáo nghiêm trọng. “Phá vỡ tình đồng minh và cố tình gây khó khăn cho chánh phủ”. Lời buộc tội thật hàm hồ và sự trừng phạt rất bất định. Với vận mệnh mỏng manh của tờ báo, chúng tôi đang làm một cuộc leo dây đầy nguy hiểm. Đã nhiều lần tôi tự nhủ không thể nín lặng được nữa, nhưng liệu chúng tôi sẽ kêu gào được gì. Sự tồn tại của tờ báo, lẽ sống thiết thực của nhiều người tùy thuộc vào đường lối tôi sẽ chọn lựa. Dù với bản chất nào của hoàn cảnh, chúng tôi cần thiết phải tồn tại. Loạt bài mới khởi đăng đã bị bỏ dở và tôi nghĩ sẽ còn lâu mới cầm bút trở lại nếu chưa tạo được một không khí. Với tình trạng này không chắc gì tôi sống lâu dài trong nghề báo. Giờ phút này tôi không còn suy nghĩ được một điều gì. Dường như có tiếng động của một cánh cửa bật mở, cô thư ký bước vào cho hay có một ông giáo sư tới kiếm khi tôi vừa rời tòa soạn buổi chiều, ông có để lại một danh thiếp. Tôi ngạc nhiên về sự xuất hiện tên của ông Hoàng Thái Trung. “Anh cũng quen biết ông Trung sao?”, Cô thư ký trở ra, vẫn trên khuôn mặt sáng rỡ đó là một tia mắt ranh mãnh giữa khe cửa vừa khép kín. Ông Trung có đọc những số báo vừa rồi, ông chú ý rất nhiều tới vấn đề tôi nêu ra, nhất là khía cạnh chi phối bởi người Mỹ. Ông tiếp, không ngờ chỉ sau một thời gian ngắn mới vào nghề báo, tôi đã nắm vững vấn đề cao nguyên đến như vậy và quan điểm của tôi đưa ra rất đứng đắn. Do đó ông Trung mong có dịp gặp lại tôi để cùng bàn về cái miền Đất Hứa ấy của Việt Nam mà theo ông, sau khi chiến tranh chấm dứt - chiến tranh nào mà chẳng phải chấm dứt, tương lai là ở miền đất hoang vu đó hơn là miền Hậu giang với những sông cùng rạch. Tôi đọc nhiều lần, cũng với những hàng chữ ấy và mỗi lần đều đem tới cho tôi ấnhững cảm xúc mới. Tôi mở ngăn kéo, gài tâm danh thiếp trên một mảnh bìa của tập tài liệu chưa đọc hết một phần ba. Trái với những ý nghĩ mệt nản, vẫn những ham muốn giục giã tôi phải viết tiếp trước khi những dữ kiện đó trở nên khô cứng và mất hết ý nghĩa.

Nhìn lại những gì còn khuất tất sau một bản án tử hình

Lê Công Tư

Bản án tử hình dành cho Đặng Văn Hiến là dành cho những người dân đã bị dồn ép, bức bách tới cùng đường. Nói cách khác là họ chỉ còn mỗi một con đường tao chết hay là mày chết.

Thử nhìn lại những gì còn khuất tất, tăm tối, mịt mờ: Sau cái bản án tử hình này là ai? Thế lực nào đã chống lưng cho công ty Long Sơn được chính quyền Đăk Nông giao cho 1079 hec ta đất để làm dự án nông lâm nghiệp?

Trong suốt thời gian xảy ra sự kiện này, chẳng ai thấy bóng dáng công an lẫn chính quyền địa phương ở đâu cả. Chỉ đến khi có ba người của công ty Long Sơn bị chết cùng với 13 người bị thương, còn về phía người dân thì một người bị chém nứt sọ với một phụ nữ bị đạp trụy thai, thì chính quyền địa phương mới vào cuộc. Trong khi chỉ cần nghe loáng thoáng ở đâu đó sắp có một cuộc biểu tình chống đối Trung Quốc lấn chiếm Biển Đông là công an đủ mọi sắc phục, hình tướng dưới đủ mọi dạng thức đã được huy động cùng đường, chật phố. Chẳng lẽ chính quyền địa phương không hay biết gì hay là giả đui, giả điếc để mặc công ty Long Sơn muốn làm gì tùy ý? Vẫn chưa ngừng ở đó, nghe nói Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình thay mặt chính quyền trung ương đề nghị chính quyền Đăk Nông ngăn chặn cưỡng chế, phải rà soát lại toàn bộ vụ việc thì chính quyền sở tại cũng chẳng buồn nghe. Dễ khiến người ta nhớ lại một câu nói của Thủ tướng Phan Văn Khải dạo nào: “Trên nói mà dưới có thèm nghe đâu”.

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 5): Nguyễn Thị Vinh

 

NTVSinh ngày 15.7.1924 tại làng Vân Hoàng tỉnh Hà Ðông;

chủ bút tạp chí Tân Phong (Sài Gòn).

Chủ nhiệm báo Ðông Phương (Sài Gòn).

Ðịnh cư tại Na Uy từ năm 1984.

Tác phẩm đã xuất bản:

· Hai Chị Em (truyện dài, Phượng Giang, Sài Gòn 1953)

· Thương Yêu (truyện dài, Phượng Giang, Sài Gòn 1955)

· Xóm Nghèo (truyện dài, Phượng Giang, Sài Gòn 1958)

· Men Chiều (truyện dài, Phượng Giang, Sài Gòn 1960)

· Thơ Nguyễn Thị Vinh (1972)

. Cô Mai (1972)

· Vết Chàm (1973)

· Na Uy Và Tôi (1994)

Biệt ly đình

Chiếc tàu nhỏ chạy chậm dần, chậm dần, tiếng máy cũ kỹ kêu xình xịch, từng hồi còi khàn khàn “hú... hụ... hú... hụ” như giọng người già giục giã khẩn thiết...
Lúc ghé bờ, nó va mạnh vào phao cầu tàu, mọi người nhốn nháo sửa soạn lên bến, đám phu gò người, níu chặt sợi dây “cáp”, quấn nhanh vào cây trụ sắt. Hai cha con cụ Lê lẫn trong đám hành khách lũ lượt lên bờ. Việt lơ đãng nắm tay cha. Lần đầu tiên trên đất nước Tàu anh cảm thấy lạc lõng giữa cảnh sinh hoạt ồn ào của người Tàu.

Nhớ lại bác Trần gái từ Việt Nam sang đã kể biết bao nhiêu chuyện ở quê nhà. Nơi Việt đã sinh ra, rồi rời bỏ từ lúc sáu tuổi, đến nay đã mười bốn năm. Kỷ niệm cũ đứt quãng và loáng thoáng như một giấc mơ, chỉ có hình ảnh của mẹ là Việt nhớ rõ, nhớ từ giọng nói đến ánh mắt hiền hậu. Việt cũng không quên thằng Nam, em trai anh. “Không biết bây giờ nó ra sao, chắc lớn lắm rồi?... Kém mình có hai tuổi chứ mấy.”
Qua khỏi cầu tàu, cụ Lê lên cơn ho rũ rượi, ho gập người lại, đổ nước mắt. Việt đỡ cha và hơi khó chịu vì những con mắt tò mò bao quanh người hai cha con. May mà ai cũng vội vã, tất tưởi. Ngớt cơn ho, cụ Lê nói lạc cả giọng: “Chắc hôm qua thầy ăn phải cái mắm tép, bác Trần gái mang ở Việt Nam sang, ăn thì ngon thật nhưng cũng độc. Gớm, mười mấy năm nay, giờ mới lại được chấm đũa vào cái món ấy. Hồi trước mẹ con làm mắm tép là khéo lắm cơ đấy...”.

Trung tâm Đà Lạt: làm đẹp hay phá vỡ không gian kiến trúc?

Mai Thái Lĩnh

Ngày 2/1/2018, trên báo Tuổi Trẻ có bài viết nhan đề “Lo ngại không gian đặc hữu Đà Lạt bị phá vỡ”, trong đó nêu lên mối lo ngại về việc không gian kiến trúc của Đà Lạt có thể bị phá vỡ vì dự án 3.000 tỷ nhằm “biến khu Hòa Bình (TP Đà Lạt) thành một trung tâm thương mại - dịch vụ phức hợp hiện đại”.

Để biện minh cho nhu cầu hiện đại hóa toàn bộ khu trung tâm cũ, ông Lê Quang Trung – Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Lâm Đồng, giải thích: “khu Hòa Bình được xác định là khu đô thị du lịch tầm cỡ quốc gia và quốc tế”, trong khi “xét về thực tế, khu trung tâm này chưa đạt được tầm vóc tương xứng của nó về các yếu tố lịch sử, văn hóa và du lịch.”

Về nội dung của đồ án, ông cho biết:

- Trong diện tích 30ha được quy hoạch theo đồ án, sẽ giao khoảng 6ha (khu vực rạp Hòa Bình) để Công ty cổ phần địa ốc Đại Quang Minh đầu tư xây dựng khu trung tâm thương mại hiện đại. […] Theo dự kiến, cuối tháng 1-2018, "Đồ án quy hoạch chi tiết và thiết kế đô thị - tỉ lệ 1/500 khu vực trung tâm Hòa Bình, TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng" sẽ được phê duyệt xong và sau đó tiến hành công tác giải tỏa, xây dựng một trung tâm mới gần như hoàn toàn.

- Theo quy hoạch, khu Hòa Bình sẽ được xây dựng thành một khu trung tâm thương mại có khách sạn 5 sao, có các khu dân cư chỉnh trang và một không gian công cộng từ trung tâm Hòa Bình xuống chợ Đà Lạt đến đường Lê Thị Hồng Gấm, từ phía trước chợ trải dài đến bùng binh cầu Ông Đạo.”

Để trấn an mối lo ngại “công trình hiện đại sẽ làm mất cây xanh, ông Trung cho biết “quy hoạch mới sẽ khống chế chiều cao các tòa nhà tại khu trung tâm này, tất cả đều không được vượt quá 5 tầng. Tất cả các khu vực đã có cây xanh vẫn đảm bảo giữ lại tuyệt đối. Đặc biệt, khi làm quy hoạch này chúng tôi cũng đã gắn với hồ Xuân Hương. Tại đây, các khu vực dân cư ở đường Phan Bội Châu, giáp với chợ sẽ giải tỏa để trồng cây xanh đô thị và hoa, hay là khách sạn Hải Sơn cũng sẽ giải tỏa, tất cả công trình trước chợ sẽ giải tỏa, thay thế bằng không gian hoa, không gian công cộng có hoa, cây xanh, thảm cỏ, giảm mật độ xây dựng toàn khu, không cất thêm công trình".

Tương quan lực lượng năm 2017 và trò chơi bấm nút

Thế giới năm 2017 quả thật là một năm đầy biến động. Nước Đức hùng mạnh bị lao đao với nạn nhập cư ào ạt và Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo của bà Merkel tuy chiến thắng nhưng đang lao đao vì cho đến tháng 1/ 2018 vẫn chưa thể lập chính phủ mới vì Đảng Dân chủ Xã hội đã tẩy chay không tham gia chính phủ trong khi Đảng cực hữu AFD sau hơn nửa thế kỷ lại có mặt trong Quốc hội Đức! Tổng thống Syria  Assad với đồng minh chống lưng Putin vẫn tiếp tục độc tài kéo dài cảnh nồi da xáo thịt tan hoang của đất nước này. Rồi cảnh căng thẳng giữa các nước Hồi giáo theo phái hai phái sumi và shia càng thêm rối ren các nước vùng  Vịnh. Rồi Venezuela "xã hội chủ nghĩa" đang thảm bại sắp hết hơi là lời cảnh tỉnh cho những ai ngo nghoe khoe chủ nghĩa xã hội và cộng sản.

Nhưng thời sự nhất vẫn là cuộc đấu võ mồm giữa Ủn và Trump về tên lửa và vũ khí nguyên tử dọa hủy diệt lẫn nhau...

Họa sĩ biếm họa Gargalo với hai bức tranh biếm họa này đã lột tả một cách hài hước nhưng sâu cay sự phức tạp và nguy hiểm thế giới của chúng ta hiện nay. Hi vọng năm 2018 sẽ đỡ căng thẳng hơn.

Lý Trực Dũng

Kẻ Di Truyền Sách (kỳ 4)

Trần Vũ thực hiện

clip_image002

Tranh Aurélien Diot

clip_image004Trần Vũ: Qua anh trình bày trong 2 tập 1300 trang Tôi Không Biết: Wislawa Szymborska, tôi hiểu bà khước từ những phô trương thái quá của các phái tiền vệ (Avant-Garde), bà tránh lộng ngôn, lộng ngữ, thậm chí sức hiển lộng của câu chữ đối với bà, là giả dối. Szymborska khai tử các xung lực trữ tình và xếp vào tủ áo những tra vấn. Bà đi tìm hài hước một cách thanh lịch, kết hợp cứng rắn với cảm xúc nhưng giữ một khoảng cách, và xem đời sống hằng ngày là vũ trụ, đích đến của thi ca. Szymborska chú ý đến những chi tiết thường nhật. Nhưng ngôn ngữ của bà không đáp ứng những gì Aristote đặt để: “Phẩm chất của văn, là phải sáng sủa mà không tầm thường: mà văn trong sáng nhất là văn phối kết với các từ thông dụng, nhưng như vậy lại tầm thường: ví dụ điển hình là thơ Cléophon hay thơ Sthénélos. Văn quý tộc thoát ra khỏi sự dung tục, là văn vận dụng các từ lạ. Qua chữ « từ lạ », tôi muốn nói từ hiếm, phép ẩn dụ, sức mở rộng và tất cả những gì tách khỏi lối viết thông thường.” [Thi ca, Aristote, Dẫn nhập, Diễn Giảng và Ghi chú của Michel Magnien, 1458a, XXII, trang 142, tủ sách Livre de Poche/ Aristote, Poétique, Michel Magnien, Les Classiques de Poche, 1990].

Lí luận văn học Nga hậu xô viết (5)

Lã Nguyên


II. M.M. Bakhtin và lí thuyết thể loại văn học

Mikhail Mikhailovits Bakhtin không chỉ là nhà triết học, mà còn là nhà mĩ học, văn hóa học và nghiên cứu văn học lỗi lạc nhất của thế kỉ XX. Từ cuối những năm sáu mươi của thế kỉ trước, ông đã được phương Tây biết tới và đánh giá cao; sáng tác, tư tưởng cuộc đời và nhân cách của ông nhanh chóng trở thành đối tượng quan tâm nghiên cứu, kiến giải ngày càng sâu rộng trên trường quốc tế, đến mức hiện nay hoàn toàn có cơ sở nói về một bộ môn “Bakhtin học” trên quy mô toàn cầu, với nhiều trung tâm ở nhiều nước phát triển. Những tư tưởng thiên tài của ông ngày càng có ảnh hưởng sâu rộng tới sự phát triển của khoa học nhân văn trên phạm vi toàn thế giới.

Trong di sản lí luận văn học phong phú, đa dạng của M. Bakhtin, nội dung độc đáo nhất, chắc chắn, thuộc về lí thuyết thể loại văn học của ông. M. Bakhtin cho rằng: “Không thể có tác phẩm nằm ngoài thể loại. Tác phẩm chỉ tồn tại trong một hình thức thể loại cụ thể”[1]. Theo ông, “nhân vật chính yếu” của lịch sử văn học là thể loại; lịch sử văn học là lịch sử đấu tranh giữa các thể loại, chứ không phải là lịch sử trào lưu và trường phái”[2]. Cho nên, khi bàn về văn học, M. Bakhtin bao giờ cũng dành cho vấn đề thể loại một vị trí đặc biệt.

Những đêm trắng

Truyện lịch sử Khuất Đẩu

Nhân kỷ niệm 110 năm ngày sinh vị anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học (01/12/1903- 01/12/2012)


Đêm ở đền Thượng

Đó là một đêm đầu xuân, ánh trăng mỏng quá không soi rõ được mặt người. Những bậc tam cấp cứ nối nhau lên cao, lên cao mãi như vút tận trời. Một đàn chim Lạc từ đâu bỗng bay qua, tiếng đập cánh làm đong đưa những chòm sao xanh biếc.

Đêm thánh vô cùng!

Họ đi lễ đền Thượng.

Lễ vật không có bánh chưng bánh giầy. Chỉ có trầu, cau và hai trái tim thắm đỏ.

Chàng nói, “Hôm nay, anh cưới em!”

Nàng nói, “Em cũng cưới anh, hôm nay!”

Họ cùng nói, “Thưa quốc Tổ, chúng con xin cưới nhau!”

Nghe như có tiếng cười từ ái reo vui của các vua Hùng.

Chùm thơ Xuân Nguyễn Đăng Hưng

1.    Bài thơ Xuân Tân Mão
(Tôi chọn mùa Xuân làm cơ ngơi)


Cho dù mùa Đông đã đến cận kề
Tôi vẫn thấy mùa Xuân qua khung cửa sổ
Cho dù năm tháng còn dài lê thê
Tôi vẫn thấy mùa Xuân qua như hơi thở

Cho dù mây đen còn bao kín ngõ
Tôi vẫn thấy mùa Xuân đọng lại mi em
Cho dù mưa bay, cho dù lá đổ
Tôi vẫn thấy mùa Xuân xuyên qua bóng đêm

Nhà văn Nguyễn Viện, sống, như một mũi tên

Du Tử Lê/Người Việt

Nhà văn Nguyễn Viện. (Hình: Diễn Đàn Thế Kỷ)


Tôi e rằng mặt bên kia của hữu ích tuyệt vời mà Internet đã đem đến cho thời đại chúng ta, lại chính là những đáng tiếc không thể tránh khỏi. Tôi muốn nói, có rất nhiều tin giả, thậm chí tin tức, bài vở xúc phạm tới danh dự, đời tư của cá nhân người khác! Chúng vẫn được loan tải một cách thoải mái, “vô tư!”

Sự kiện hai chiều thuận/ nghịch này cũng khiến cho một số người bị hàm oan. Họ như nạn nhân, con tin của dư luận khen/ chê, ngợi ca và phỉ báng tối tăm, chứa đầy gân máu ganh tị, hiềm khích mù lòa, nhất là ở lãnh vực văn học và nghệ thuật…

Một nhà văn bị nhiều dư luận xăm soi nhất theo tôi là Nguyễn Viện. Nhưng ông vẫn thản nhiên, dễ chừng, nhờ ông có được nội lực thâm sâu hơn người (?) Có người cho rằng tính ngang, ngạnh của họ Nguyễn cho cảm tưởng: Nhà văn Nguyễn Viện, sống, như một mũi tên.

Nhận xét chung, cho rằng, dù ở cực nào bênh vực hay chê bai thì những người bênh/ chống ông, đều cho thấy tính nhiệt tình, tích cực nhất – như thể nếu thiếu cảm tính quyết liệt này, họ sẽ không tìm đến ông. Không ở sát bên hay, vạch một đường phấn dứt khoát ngăn cách (dù âm thầm), giữa ông và họ.

Cá nhân tôi, không được biết nhiều về ông, cho tới hai năm gần đây.

Vì sao Không Nga?


Thay cho câu trả lời, xin giới thiệu bài viết của nhà văn Nga Dmitri Bykov, tiến sỹ Tâm Trần dịch và giới thiệu, và cho phép tôi đăng lại trên trang "Người Việt hôm nay" này.

Vì sao Không Nga?
"Hai phần ba số người Nga không phản đối việc dựng các bảng khắc, các bức tượng tưởng niệm Stalin ở những nơi công cộng. Nhưng nếu chỉ thế thì không có gì đáng nói. Điều đáng nói là nếu việc này trở thành hiện thực, thì lập tức ba phần tư người Nga sẽ phản đối. Vấn đề là ở chỗ cũng lại chính là những người Nga đó. "
Xin mời các bạn đọc

LỜI GIỚI THIỆU

Vừa qua tôi có một cuộc nói chuyện thú vị với nhà nghiên cứu văn hóa và phê bình văn học Vương Trí Nhàn về nước Nga. Ông Nhàn đã từng sống và làm việc ở Liên Xô vào cuối thập niên 1980 và từ đó chưa có dịp quay lại nước Nga.

Đất nước, con người và văn hóa Nga đã để lại cho ông nhiều ấn tượng tốt đẹp. Ông Nhàn cũng là người giới thiệu cho độc giả Việt Nam nhiều tác phẩm của các nhà văn và các nhà nghiên cứu Nga và Xô Viết.

Ấn tượng nhất đối với tôi trong câu chuyện với ông Nhàn là tình yêu đặc biệt của ông dành cho những tác phẩm và con người nhà văn Xô Viết Ilya Erenburg. Một tình yêu từ thủa hoa niên không thay đổi theo năm tháng.

Một điều không ngạc nhiên vì từ lâu tôi đã nhận thấy có một mối thiện cảm khác thường của người Việt Nam, đặc biệt ở các thế hệ đi qua chiến tranh với đất nước, con người và văn hóa Nga. Kể cả ở những người Việt Nam chưa từng một lần đến nước Nga.

Vì vậy đối với tôi, thật không dễ dàng để nói với họ về những sự thật không mấy dễ chịu về nước Nga ngày nay và Liên Xô ngày xưa. Câu chuyện với ông Vương Trí Nhàn về nước Nga cũng không ngoại lệ.

Trả lời câu hỏi: “Nước Nga hiện nay thế nào?” của ông, tôi đã nói suy nghĩ thực của mình: “Nước Nga hiện nay đang ở trong trạng thái ngưng đọng thời gian lịch sử. Nước Nga không hề có một dự án tương lai rõ ràng, khả thi. Nước Nga cần có một thế hệ lãnh đạo mới, những người trẻ với những giá trị khác. Một thế hệ trẻ có cách nhìn thế giới và vị trí của nước Nga trên thế giới hoàn toàn khác. Và trước hết người Nga phải biết tạo cho mình một huyền thoại mới về chính nước Nga, thay cho huyền thoại về nước Nga một “pháo đài bị bao vây” hiện nay”.

Ông Nhàn có vẻ hơi thất vọng về câu trả lời của tôi nhưng không hề ngạc nhiên. Từ nay đến bầu cử tổng thống Nga tháng 03.2018, tôi xin phép giới thiệu tiếp tục một số bài viết của giới học thức tinh hoa Nga về nước Nga, để góp phần làm sáng tỏ thêm những sự thật không mấy dễ chịu về nước Nga hiện nay. Một trong những sự thật không dễ chịu này, là về nhiều phương diện nước Nga đang ngày càng thua kém Trung Quốc. Một nước “đàn em” của Liên Xô trước đây.

Tháng 10.2017, sau khi Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XIX kết thúc, thông tin về diễn biến Đại hội này và các mục tiêu của chương trình phát triển Trung Quốc sắp tới đã tràn ngập truyền thông và thế giới mạng Nga. Những thông tin này được sự quan tâm đặc biệt chăm chú của các nhà nghiên cứu và giới tinh hoa mọi lĩnh vực nước Nga.

Trong những thông tin này, gây chấn động hơn cả cho giới tinh hoa Nga là thông tin về việc lãnh đạo Trung Quốc có dự án xây dựng một “xã hội thịnh vượng vừa phải” vào năm 2020. Một dự án tương lai tham vọng nhưng có vẻ không hề ảo tưởng.

Có thể nói đây là “cơn địa chấn” thứ hai đến từ Trung Quốc kể từ đầu 2015, khi những thông tin về việc lương trung bình ở Trung Quốc đã vượt lương trung bình ở Nga, lương tối thiểu và lương hưu của người Trung Quốc cao hơn người Nga nhiều xuất hiện lần đầu tiên trên truyền thông Nga.

Tôi xin phép tiếp tục câu chuyện về nước Nga bắt đầu bằng bài viết của nhà văn, nhà chính luận Nga nổi tiếng Dmitri Bykov. Bài viết với tiêu đề “Nước Nga già cỗi” đăng trên báo mạng profile.ru ngày 23.07.2017.
************************
NƯỚC NGA GIÀ CỖI

http://www.profile.ru/pryamayarech/item/118613-staraya-ross

Nước Nga ngày nay đang ở trạng thái treo, nằm ngoài thời gian lịch sử, không phát triển và không chết, mà rơi vào khoảng không gian giữa cuộc sống và cái chết.

Hai phần ba số người Nga không phản đối việc dựng các bảng khắc, các bức tượng tưởng niệm Stalin ở những nơi công cộng. Nhưng nếu chỉ thế thì không có gì đáng nói. Điều đáng nói là nếu việc này trở thành hiện thực, thì lập tức ba phần tư người Nga sẽ phản đối. Vấn đề là ở chỗ cũng lại chính là những người Nga đó.

Điều đáng buồn nhất ở nước Nga hiện nay là tất cả những tin tức mới nhất đều liên quan đến các bậc trưởng lão trong xã hội, và tất cả các sự kiện thời sự nhất đều có nguồn gốc sâu xa từ trong lịch sử của chúng ta.

Ekip phụ tá của tổng thống chẳng vẽ ra được một hình ảnh nào của tương lai. Mà nói đến tương lai làm gì khi ngay cả hiện tại cũng không có! Nước Nga đang sống với quá khứ, nhưng ngay cả đến hình ảnh của quá khứ cũng khá nhàm chán. Một quá khứ chỉ bao gồm hình ảnh của Ivan Hung Đế, Stalin, Zhukov, Gagarin, Nikulin-Vitsin-Morgunov (bộ ba nghệ sỹ nổi tiếng Liên Xô chuyên đóng các phim hài những năm 1960-1970).

Nước Nga ngày nay là đất nước của những người già, không phải già về mặt tuổi tác, mà là về phương diện tâm lý và tinh thần. Nước Nga có đầy đủ những biểu hiện của tuổi già như việc sợ sự thay đổi, việc bám víu vào quá khứ và quan tâm quá mức đến nó. Một biểu hiên nữa của tuổi già là người ta không nhớ những gì xảy ra hôm qua, nhưng có thể dễ dàng nhớ lại những gì diễn ra 50 năm trước.

Rồi thì sở thích tích cóp lẩm cẩm, thậm chí như một triệu chứng bệnh lý, khi người ta không vứt đi bất cứ thứ di sản tinh thần nào, còn những thứ gì có được thì xếp chung vào một đống. Một đặc trưng khác của tuổi già là việc căm ghét người trẻ tuổi, hãy nhớ lại chúng ta đã giận dữ như thế nào với đám học sinh tham gia biểu tình chống tham nhũng (ngày 26.03.2017 ở rất nhiều thành phố nước Nga đã diễn ra những cuộc biểu tình chống tham nhũng, mà thành phần tham gia chủ yếu là sinh viên và học sinh – ND).

Tóm lại, nước Nga của chúng ta có đủ các yếu tố của một tuổi già thông thường. Điều khác biệt của riêng nước Nga tuổi già, là một tuổi già nghèo túng và bị quên lãng.

Cách đây ít lâu tôi có cuộc nói chuyện với các đồng nghiệp nhà văn, những người cùng thế hệ tôi và trẻ hơn (nhà văn Dmitri Bykov sinh năm 1967) về vấn đề tại sao chúng ta không có các tiểu thuyết về thời hiện tại? Chỉ có một vài tiểu thuyết phản huyễn tưởng về tương lai (tiểu thuyết viễn tưởng hầu như vắng mặt). Trong khi có rất nhiều tiểu thuyết lịch sử về Ivan Hung Đế, Piotr Đại Đế, thậm chí về Lenin, nhưng lại không có tiểu thuyết nào về nước Nga hiện nay.

Tại sao? Đơn giản vì rằng chẳng biết nên viết về điều gì cả, đất nước ở trạng thái treo, nằm ngoài thời gian lịch sử, không phát triển nhưng mà không chết, và như anh thợ săn Gracchus trong tác phẩm Der Jäger Gracchus của Kafka rơi vào khoảng không gian giữa cuộc sống và cái chết. Chúng ta có thể tồn tại như vậy rất lâu tùy ý muốn, trong tình trạng một nước Nga với các tỉnh đổ nát, lạc hậu và tăm tối.

Nhưng bù lại nước Nga có một Moskva được chăm bẵm, khá sáng sủa và phát triển. Nước Nga còn có một nước Thổ Nhĩ Kỳ láng giềng, một thiên đường nghỉ dưỡng được người Nga rất ưa thich, đến mức phần lớn người Nga nhầm tưởng đó là một phần của lãnh thổ nước Nga.

Nhưng nếu gọi sự tồn tại như vậy là cuộc sống thì tôi xin kiếu. Đặc biệt là nếu tính đến việc để bảo tồn một trạng thái đời sống tồi tệ như vậy, chúng ta phải duy trì những dòng tuyên truyền nhà nước mạnh mẽ đầy dối trá, một hệ thống chính quyền tham nhũng và thêm cả những cuộc xâm lăng ra bên ngoài. Mà thiếu nó chúng ta không thể giữ vững được tòa tháp quyền lực nhà nước, không đoàn kết được dân chúng.

Tôi thậm chí còn chẳng muốn nói đến những gì đã và đang diễn ra với y tế và giáo dục, với công ăn việc làm và lương bổng. Còn về cơ hội thăng tiến và phát triển của từng cá nhân thì tốt nhất là nên quên hẳn đi.

Lĩnh vực duy nhất còn có sự luân chuyển, đảo lộn từ trên xuống dưới và ngược lại, đó là việc sản xuất phim truyền hình. Một lĩnh vực mà chất lượng từ nhiều năm nay không hề tiến bộ, nhưng số lượng ngày càng tăng. Trong lĩnh vực này đúng là luôn có những khuôn mặt trẻ, lạ (nhưng hoàn toàn không có nghĩa đó là những tên tuối mới, bởi vì những khuôn mặt đó, cũng như các cốt truyện đều đã được chuẩn hóa từ lâu).

Về phần những lĩnh vực đời sống khác còn lại, xin hãy đọc chương trình biểu diễn của bất cứ buổi hòa nhạc nào nhân dịp các ngày lễ, hay là thậm chí ngay cả danh sách ca sỹ biểu diễn trong đám cưới ồn ào gần đây của một vị quan toà nổi tiếng ở Moskva. Trong danh sách này có cả Kobzon (sinh 1937) lẫn Baskov (sinh 1976). Họ đều rất quen thuộc và có vẻ cổ kính như nhau, mặc dù giữa họ là khoảng cách gần hai thế hệ.

Nữ ca sỹ chính của nước Nga hiện vẫn là Alla Pugacheva (sinh 1949), còn người đối lập chính về phong cách với bà vẫn là Zemfira (sinh 1976), mặc dù đã từ lâu cả hai không có bất cứ tiết mục mới nào và vị thế của họ trong làng ca nhạc thực tế cũng đã ngang nhau.

Người ta tìm mọi cách thuyết phục chúng ta, rằng không có phương án con đường nào khác cho nước Nga hiện nay, không có lựa chọn, rằng bảo đảm duy nhất cho sự tiếp tục tồn tại của quốc gia Nga, đúng hơn là sự dường như tồn tại của nó là vị thủ lĩnh 65 tuổi, được một ekip những người đồng niên với ông phò tá,

Ngay ở Liên Xô thời Brezniev, ít nhiều cũng từng có cơ chế sự cho thăng tiến nghề nghiệp, chẳng hạn đó là Komsomol (Đoàn Thanh niên Cộng sản), ngoài ra cũng có điều kiện cho mọi người phát triển những hướng kinh doanh sản xuất mới, cho truyền hình thế hệ mới. Ngày nay dành cho các bạn trẻ chỉ còn lại một khả năng duy nhất, đó là vờ vịt làm việc ở các văn phòng hoặc bước ra đường biểu thị sự phản đối. Điều này chính là nguồn gốc phát sinh một hiện tượng thời thượng quái đản, những câu lạc bộ trên mạng xã hội của những người muốn tự sát.

Những người trẻ tuổi và nhiều triển vọng nhất hiện nay là thế hệ ở độ tuổi trên dưới 50. Đề tài tranh luận thường trực và bức thiết nhất của họ là Liên Bang Xô Viết, một nhà nước đã không tồn tại 25 năm.

Xin đừng bới móc tìm ra sự không tôn kính tuổi già và coi thường những người về hưu trong bài viết này. “Tôi tôn trọng tuổi già nhưng không phải ở dạng bị luộc hoặc rán chín “ Portos lừng danh (nhân vật trong các tiểu thuyết của Alexander Duma) đã nói.

Tôi cũng tôn trong tuổi già, nhưng không phải với tư cách một khuôn mẫu chuẩn mực về tư tưởng và đạo đức. Cả người trẻ lẫn người già đều cần phải biết chỗ đứng đích thực của mình trong xã hội. Người già ở nước Nga cần được kính nhường, nhưng quyết định số phận đất nước là quyền, xin phép phát biểu một cách thận trọng, không phải riêng chỉ của họ.

“Nước Nga trẻ” là tên gọi tiểu thuyết của Yuri German về những cải cách thời Piotr Đại Đế, còn quyến tiểu thuyết lý tưởng về thời hiện tại có lẽ nên có tên là “Nước Nga già cỗi”, một quyển tiểu thuyết về tuổi già nghèo đói, bị khinh rẻ, đầy oán giận. Một tuổi già thực sự không có bất cứ sự lựa chọn nào khác, ngoài một lựa chọn mà tôi không muốn nghĩ đến. Hay là ngược lai, đã muốn nghĩ đến rồi?
***********************
PS. Để kết thúc câu chuyện không mấy dễ chịu này đối với những người có thiện cảm với nước Nga, tôi xin phép dẫn thêm một vài thông tin dự báo được công bố cách đây ít hôm của Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh ở London (CEBR) cho năm 2032.

Theo tính toán của CEBR, vào năm 2032 mười nền kinh tế hàng đầu của thế giới dự kiến xếp hạng theo thứ tự sau: 1) Trung Quốc; 2) Mỹ; 3) Ấn Độ; 4) Nhật Bản; 5) Đức; 6) Brasil; 7) Anh; Hàn Quốc; 9) Pháp; 10) Indonesia.

Trong dự báo này nền kinh tế Nga tụt hạng từ thứ 11 hiện nay xuống vị trí thứ 17. Như vậy, so với các nước trong BRICS (những nền kinh tế mới nổi hàng đầu) Nga là nước duy nhất tụt hạng và tụt hạng đáng kể.

Theo giới chuyên môn kinh tế và xã hội học Nga, lý do chủ yếu và trực tiếp của sự suy thoái này là trong cơ cấu sử dụng năng lượng toàn cầu vai trò của dầu khí ngày càng giảm. Còn giá dầu thô sẽ giảm dần xuống $30/thùng vào năm 2032.

Theo giới chuyên môn kinh tế và xã hội học Nga, nguyên nhân sâu xa của sự suy thoái này là việc thể chế và tình trạng xã hội nước Nga hiện nay và trong tương lại gần không thuận lợi cho việc đa dạng hóa nền kinh tế Nga. Giải pháp tối cần thiết để giảm sự phụ thuộc của nước Nga vào việc khai thác và xuất khẩu dầu khí.

Старая Россия

Сегодняшняя Россия зависла вне времени, не развивается и не умирает, попав в пространство между жизнью и смертью

PROFILE.RU

Nguồn: NGƯỜI VIỆT HÔM NAY

Đọc “Bắt đầu và kết thúc” của Trần Quỳnh Nga


FB Trinh Thu Tuyet

Rất lâu không đọc báo Văn nghệ, ngẫu nhiên thấy một truyện ngắn được share trọn vẹn trên một trang Fb quen nên tò mò mà đọc, đó là “Bắt đầu và kết thúc” của Trần Quỳnh Nga! Đọc xong, bày tỏ vài dòng trên trang cá nhân, một học trò nói: “Nên để lời bình cho những gì đáng bình”; đồng nghiệp thì khuyên:” Hãy để nó tới thế nào thì đi như thế, vô tăm tích”!

Vậy nhưng vẫn thấy cần phải nói vài lời về một truyện ngắn không thể không suy nghĩ!

Từ điện gió Bạc Liêu, tới hai khu nhà máy điện than Sóc Trăng và Trà Vinh *

Ngô Thế Vinh

Bước phát triển bền vững nào thì cũng phải tính tới cái giá môi sinh / environmental costs phải trả đối với sức khoẻ của người dân và cả trên nguồn tài nguyên lâu dài của đất nước.

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

clip_image002

Hình 1: từ trái, KS Phạm Phan Long Hội Sinh Thái Việt, TS Lê Anh Tuấn Viện Nghiên cứu Biến Đổi Khí Hậu ĐH Cần Thơ, Ngô Thế Vinh trên đường dẫn ra biển đến khu Điện Gió / Windfarm Bạc Liêu. [photo by Lê Phát Quới]

clip_image004

Hình 2: Cửu Long Chín Cửa Hai Dòng, nay chỉ còn Bảy Cửa: Sông Hậu ba cửa nay còn hai: (1) cửa Trần Đề, (2) cửa Định An, (cửa Ba Thắc/ Bassac đã bị lấp). Sông Tiền sáu cửa nay còn năm: (3) cửa Cung Hầu, (4) cửa Cổ Chiên, (5) cửa Hàm Luông, (cửa Ba Lai đã bị đắp đập làm cống từ năm 2000), (6) cửa Đại, (7) cửa Tiểu. [nguồn: CLCD BĐDS p.360]. Tỉnh Bạc Liêu với Khu Điện Gió, Sóc Trăng với 3 nhà máy Điện Than Long Phú 4.400 MWTrà Vinh với 4 nhà máy Điện Than Duyên hải 4,260 MW trong tổng số 14 nhà máy Điện Than trên khắp 12 tỉnh ĐBSCL. [nguồn: Dragon/ CTU, với phần ghi chú của Ngô Thế Vinh]

Hãy rèn em thành vũ khí – Thơ Pablo Neruda

Vũ Thị Thanh Mai

clip_image002

Pablo Neruda [1904-1973] tên thật là Netftalí Recardo Reyes Basoalto, sinh ra vào mùa hạ năm 1904 tại một thị trấn nhỏ miền quê Chile trong một gia đình nghèo khó. Cuộc đời của cậu bé Recardo tưởng chừng phải xa lánh bút mực vì cha làm công nhân hỏa xa và mẹ làm giáo viên chết sớm vì lao phổi một tháng sau khi cậu chào đời. “Tuổi ấu thơ của tôi là những đôi dép ướt, là thế giới của gió và lá rừng, của những thân cây gẫy phủ dây leo”, như Neruda sẽ kể lại về sau, khi nhận giải Nobel Văn Chương 1971.

Là một cậu bé cô đơn với tính tình nhút nhát, nhưng ham mê đọc sách, năm mười tuổi Recardo bắt đầu tập làm thơ. Năm lên mười ba, bài thơ đầu tay của Recardo được đăng tải trên nhật trình "La Mañana". Sau đó, anh cộng tác với báo văn học "Selva Austral" dưới bút danh Pablo Neruda, có lẽ để tránh sự chống đối của người cha đã không bao giờ chấp nhận việc anh theo đuổi con đường văn chương. Crepusculario [Hoàng hôn], thi tập đầu tiên của Neruda xuất bản năm 1923, phản ảnh sự huyền ảo và thanh nhã của trường phái tượng trưng. Đến thi tập thứ nhì năm 1924, Twenty Love Poems and a Song of Despair [Hai mươi bài thơ tình yêu và một bài hát tuyệt vọng], Neruda lập tức từ một nhà thơ chưa được biết đến trở thành một tài thơ vang danh thế giới. Về sau, thi tập này trở thành một trong những thi tập của Neruda được ưa chuộng nhất và được dịch sang nhiều ngôn ngữ nhất, bán được trên một triệu quyển vào đầu thập niên 60.

“Hai mươi bài thơ tình yêu và một bài hát tuyệt vọng” đã gây chấn động vì sự ham muốn thân xác mang phong cách mãnh liệt, khác hẳn với truyền thống lãng mạn đương thời: "Anh đã đi đánh dấu bản đồ của thân thể em/ với những dấu thập lửa. / Miệng anh đi ngang qua: một con nhện, cố gắng ẩn trốn. / Trong em, đằng sau em, nhút nhát, thúc đẩy bởi cơn khát. " Với hình ảnh nối tiếp hình ảnh đập mắt, Neruda vẽ hải đồ những chuyển động đại dương của niềm đam mê, liên tục triệu tập hình tượng biển và thời tiết: "Trên mọi hướng anh nhìn thấy vòng eo sương mù của em, / và sự im lặng của em dồn vào thế cùng những giờ anh đau đớn; / nụ hôn của anh cắm neo, và sự ham muốn ướt át của anh làm tổ / trong em với cánh tay em bằng đá trong suốt." Sự khác biệt này đã gây chú ý, nhưng chính giá trị kỹ thuật và xúc cảm mật thiết đã khiến thi tập được yêu chuộng dài lâu. Thi tập bắt đầu bằng cường độ mô tả cảm xúc khoái lạc mạnh mẽ rồi chuyển dần sang uể oải, rồi xa cách trong những bài sau. Đến bài thơ cuối cùng, "Một bài hát tuyệt vọng", xoáy trên nỗi trầm cảm vô vọng đắng gắt.

"Thân thể của người đàn bà" là bài thơ thứ Nhất trong "Hai mươi bài thơ tình yêu" và "Ánh sáng khuất sau đường chân trời" là bài thứ 16.

Một nén nhang tưởng nhớ nhà nghiên cứu văn học Trần Văn Nam

Trần V NamVăn Việt vừa nhận được tin buồn đột ngột từ Hoa Kỳ: Nhà nghiên cứu văn học-nhà thơ Trần Văn Nam đã qua đời ngày 10/1/2018 tại California, hưởng thọ 79 tuổi.

Tác giả Trần Văn Nam mới tham gia văn đàn Văn Việt từ tháng 9/2018, và mới cách đây ít ngày, ông đã sốt sắng hưởng ứng lời mời gửi bài cho Số Xuân Mậu Tuất.

Văn Việt xin thành kính phân ưu cùng gia đình tác giả Trần Văn Nam và cầu chúc hương hồn ông siêu thăng. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết và tấm chân dung mới nhất mà ông gửi cho Văn Việt.

Seminar: Mỹ học và “phê phán năng lực phán đoán”


Đơn vị tổ chức: Nhà xuất bản Tri Thức

Chủ trì: GS. TS. Nguyễn Trọng Chuẩn (nguyên Viện trưởng Viện Triết học)

Đơn vị phối hợp: HopeLab

Điều tiết và dẫn chương trình: Trần Đăng Dương

Thời gian: 13h45 – 16h30, thứ 6, ngày 19/01/2018

Địa điểm: Hội trường tầng 3 – Toà nhà VUSTA 53 Nguyễn Du, Hà Nội

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 4)


Nguyễn Xuân Hoàng

Tự truyện một người vô tích sự


Trong đời sống, mất mát nhiều hơn là thu nhận. Cây lúa sẽ không trổ bông, nếu trước đó nó không chết đi. Hãy sinh động một cách không mệt mỏi, nhìn về tương lai và nuôi dưỡng bằng những nguồn dự trữ sống chất chứa từ trí nhớ và sự lãng quên. It is more important in life to lose than to acquire. The grain will not sprout unless first it dies. One must remain untiringly alive, looking into the future and feeding on the living reserves which memory and oblivion together accumulate. - BORIS PASTERNAK “An Essay in Autobiography”*

Lan man Nguyễn Trọng Tạo


FB Ngô Minh Khôi

TẠO ĐI, TẠO HÁT, TẠO THƠ, TẠO EM, TẠO UỐNG TẠO SAY VÀ NAY... TẠO NẰM!

Đã qua 2 đêm một ngày nhà thơ- nhạc sĩ- họa sĩ Nguyễn Trọng Tạo, bạn thân của NM bị tai biến ở Diễn Hoa, cấp cứu ở BV Đa Khoa Nghệ An ( gọi là BV Ba Lan, Vinh). Tình hình đã bớt hiểm nguy, nhưng theo nhà thơ Tùng Bách thì Tạo lúc mê lúc tỉnh, miệng nói mà không nghe được gì, lúc tỉnh thì nhận ta bạn bè đến thăm... Thấy Tạo nằm mà thương quá! Con người ta sao mong manh vậy!? Cầu mong Tạo phục hồi nhanh để lại đi, lại uống, lại hát, lại em...

Sau đây mời bạn đọc FB đọc bài viết của NM về Nguyễn Trong Tạo in trong tuyển NGÔ MINH TÁC PHẨM ( tập 2) để hiểu thêm về Nguyễn Trọng Tạo. Bài dài, nhưng hay, bạn FB chịu khó đọc nhé :

Văn học miền Nam 54-75 (466): Ngô Thế Vinh (10)


VÒNG ĐAI XANH (KỲ 4)

CHƯƠNG CHÍN

     -  Đây là đêm cuối cùng tôi ở Việt Nam.

     -  Ông chấm dứt nhiệm vụ ở đây rồi sao? Người Thượng và cao nguyên đang cần sao ông lại bỏ đi?

     -  Không phải, sau hơn một năm tôi trở lại làm việc tại Mỹ.

     -  Hy vọng gặp lại ông.

     -  Ồ không, tôi muốn trả lại cho dân tộc Việt Nam một xứ sở hòa bình.

Tái bản tiểu thuyết “Vòng Đai Xanh” của Ngô Thế Vinh

NXB Văn Học trân trọng giới thiệu tác phẩm tiểu thuyết Vòng Đai Xanh của nhà văn Ngô Thế Vinh, được tái bản và đã phát hành trên Amazon. Sách có thêm Phụ lục gồm nhiều bài viết, tư liệu, hình ảnh, điểm sách, dư luận, v.v… chung quanh tác phẩm va nhung van de lien quan, thu thập được từ trước đến nay. Giá bán $18.00. Xin truy cập vào nối kết sau:

https://www.amazon.com/dp/1981501894/ref=sr_1_3?ie=UTF8&qid=1515619535&sr=8-3&keywords=ngo+the+vinh

Van Hoc Press

Khai ngộ với thiên nhiên: Bashô và Octavio Paz (Awakening to the Nature)

Nhật Chiêu

Bây giờ, trong thời đại phê bình sinh thái (ecocritical age), đọc lại thơ Bashô, ta cảm thấy như đang thở hít trong một sinh quyển đầy mê diệu. Đó là thứ thơ ca đưa ta vào sâu thẳm thiên nhiên. Không chỉ là thiên nhiên. Đó còn là tâm linh sinh thái, nơi mọi thứ luôn luôn sáng tạo và chuyển hóa, nơi mọi sinh linh bước đi trong ánh sáng của bình đẳng và vô sai biệt, không có chủ nhân và sở hữu chủ, nơi mọi thứ phản chiếu nhau như những hạt châu. Là nhà thơ, Bashô cảm thấy mình có quyền kêu gọi mọi người trở thành “người bạn của bốn mùa” và “quay về với tạo hóa” để gặp gỡ cái mê diệu và sáng tạo cái mê diệu. Hướng theo con đường thơ ca sâu thẳm của Bashô là tạo nên khả thể cho cuộc “tái mê diệu hiện thực của thế giới này” (a realistic reenchantment of the world) (1), nói theo Patrick H. Dust.

Lắng nghe Matsuo Bashô là lắng nghe những vần thơ của hơn ba thế kỷ trước. Đọc Bashô giữa thế kỷ hai mươi, Octavio Paz, nhà thơ lớn Mexico cho rằng kiệt tác Con đường sâu thẳm (Oku no hosomichi) là cuộc hành hương tâm linh (a spiritual pilgrimage) khi ông tham gia chuyển ngữ nó sang tiếng Tây Ban Nha(2). Bản thân Paz cũng từng sáng tác thơ theo thể renga và haiku (liên ca và haiku) trong phong cách hội tụ và hiện đại.

Cũng như Bashô, thơ Octavio Paz thể hiện hành trình tâm linh và cái đồng cảm vũ trụ rất gần tinh thần “thiên nhân tương cảm” của Đông phương mà ông rất quen thuộc. “Tương cảm và tương ứng chỉ là cách gọi cho nhịp điệu vũ trụ”, Paz đã nói như thế (3). Sự tương cảm đó có thể xem là mặc khải thơ ca (Poetic revelation) một thứ mặc khải không cần tới một quyền lực siêu hình nào, “đó là mặc khải về chính mình mà con người tạo ra cho mình” (4). Đó là mặc khải với thiên nhiên. Vì hiền minh thơ ca cũng là hiền minh thiên nhiên (natural wisdom).

Lí luận văn học Nga hậu xô viết (4)

Lã Nguyên


Chương II

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VÀ LÍ LUẬN VĂN HỌC

CỦA M.M. BAKHTIN

I. M.M. Bakhtin – nhà triết học

Có 2 nội dung chính được triển khai trong phần này này. Thứ nhất: Khảo sát quá trình tiếp nhận Bakhtin trong ý thức xã hội và tư duy khoa học, chủ yếu là ở Liên Xô trước kia và nước Nga hiện nay. Thứ hai: Phân tích hệ hình tư duy của triết học Bakhtin.

1. Ba giai đoạn công bố di sản của M. Bakhtin. Quá trình tiếp nhận M. Bakhtin ở nước Nga có thể chia thành 3 thời kì ứng với 3 giai đoạn công bố, xuất bản trước tác của ông.

Giai đoạn thứ nhất kéo dài 45 năm, tính từ 1919 đến năm 1963. Gần như toàn bộ di sản đồ sộ của M. Bakhtin đã được hoàn thành ở giai đoạn này. Nhưng suốt 45 năm ấy, nhiều công trình quan trọng bậc nhất của ông vẫn đành phải nằm im dưới dạng bản thảo. Năm 1919, M. Bakhtin công bố tác phẩm đầu tay có nhan đề Nghệ thuật và trách nhiệm trên Ngày nghệ thuật một tờ almanach của vùng Nevel. Vào những năm 20, M. Bakhtin cho in một số công trình dưới những bút danh khác nhau, ví như: V.N. Volosinov - Freudisme. Tiểu luận phê bình (1927), V.N. Volosinov - Chủ nghĩa Mác và triết học ngôn ngữ: Những vấn đê cơ bản của phương pháp xã hội học trong khoa học về ngôn ngữ (1929), P.N. Medvedev - Phương pháp hình thức trong nghiên cứu văn học. Nhập môn phê bình thi pháp xã hội học (1928). Đầu năm 1929, cuốn Những vấn đề sáng tác của Dostoevski (dưới tên thật của tác giả) ra mắt công chúng. Nhưng trước đó, ngày 24 tháng 12 năm 1928, M. Bakhtin bị bắt và đến ngày 22 tháng 7 năm 1929 ông bị kết án “5 năm tù giam trong trại tập trung”. Nhờ A.M. Gorki và A.N. Tolstoi tìm mọi cách xin ân xá, M.Bakhtin thoát khỏi án tù, nhưng ông vẫn bị đầy biệt xứ đến Kustanai, một thành phố hẻo lánh ở miền Bắc Kazastan. Ông sống ở đây gần 7 năm, làm kế toán tài chính cho liên đoàn cung tiêu huyện. Mãn hạn đi đầy, M. Bakhtin vẫn bị cấm cư trú ở những thành phố lớn của Liên Xô. Năm 1936, M. Bakhtin được dạy học ở Saransk, nhưng chẳng bao lâu, ông lại buộc phải rời Saransk đến sống ở Kimri và những vùng lân cận. Tại đây, vì bệnh nặng, ông phải tháo khớp chân (1938). Năm 1945, ông được trở về Saransk. Năm 1967, Bakhtin được minh oan và năm 1969, ông trở về Moskva. Suốt 40 năm, M. Bakhtin sống như một người vô danh. Không mấy ai còn nhớ tới tên tuổi của ông, thậm chí không ít người nghĩ rằng ông đã chết. Lúc bị bắt đi đầy, M. Bakhtin mới 33 tuổi. Tức là ở thời điểm tài năng đang nở rộ nhất, sức lực đang cường tráng, sung mãn nhất, M. Bakhtin đã bị tước quyền xuất bản những tác phẩm của mình. Thực ra, sau khi M. Bakhtin bị bắt, vẫn có 3 công trình của ông được công bố (cuốn Những vấn đề sáng tác của Dostoevski và hai bài báo về L. Tolstoi). Nhưng tất cả cũng chỉ có thế. Thời ấy, mọi nỗ lực của M. Bakhtin nhằm công bố trước tác của mình đều bị thất bại hoàn toàn. Nhiều công trình xuất sắc của ông đã phải chờ đợi vài ba chục năm, thậm chí hơn nửa thế kỉ mới có thể ra mắt bạn đọc. Sáng tác của François Rabelais và nền văn hoá dân gianTrung cổ và Phục hưng (1946), hoặc Bàn về triết học hành vi (cuối 1923 - đầu 1924) là những trường hợp như thế. Đây không chỉ là bi kịch của cá nhân M. Bakhtin, mà còn là bi kịch của một nền văn hóa.

Các nhà thơ Pháp cuối thế kỷ XX

ĐÔI LỜI THƯA BẠN ĐỌC

“Nếu thời đại này dường như không thuận lợi cho việc nổi lên “những gương mặt lớn” như những gương mặt đã từng trong suốt một thế kỷ đảm bảo cho tiếng tăm của thơ Pháp đối với đại chúng, thơ Pháp cũng vẫn có được một kỷ nguyên đẹp với sự dồi dào phong phú, với một chất lượng tổng thể hiếm có, và sự sống chung – rút cuộc là lịch sự, nếu không nói là thân ái – giữa những “khuynh hướng” khác nhau đến mức ta có thể tìm thấy trong đó sự tiếp tục ở bè trầm của truyền thống cũ xưa mà vẫn sống động, cùng lúc với những tiếng sáo, tiếng kèn và chũm chọe – không nói đến những bản độc tấu nhạc cụ gõ theo “chủ nghĩa tối thiểu” – của mọi thứ cách tân từng chen chúc, tranh chấp, thay thế nhau suốt năm sáu chục năm nay để rồi rút cuộc hòa giải với nhau.

Trong giấc mơ tôi (kỳ 3)

Nguyễn Tuyết Lộc

*THỜI CỦA BIẾN CỐ

Ai cũng biết từ năm 1954 đến 1960 dưới chính quyền Ngô Đình Diệm, Huế nói riêng cũng như cả miền Nam nói chung tưởng chừng như hưởng một nền hòa bình yên ả. Và ai cũng phải công nhận ông Diệm thành công rõ rệt trong những năm đầu. Để được như thế, thật ra ông không có một ngày được ngủ yên. Ông quyết lật đổ vua Bảo Đại – nói cách khác với sự góp ý và OK của người Mỹ, gạt bỏ mọi thành phần chống đối, trấn áp các phe đối lập, từ nhóm Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo cho đến các đảng Đại Việt, Quốc Dân đảng, xây dựng một bộ máy chính quyền có tổ chức chặt chẽ, lại có thêm ông em là Ngô Đình Nhu làm cố vấn, lập đảng Cần Lao để phục vụ chế độ. Nhiều trường đại học khác được thành lập ở các thành phố lớn, dân chúng nhìn chung đã tạm yên ổn làm ăn. Nhưng càng về sau, chính sách của ông ngày càng áp bức, không tin dùng ngay cả những người có công đưa ông về nước, chỗ nào cũng có mật vụ, nạn tham nhũng làm lũng đoạn cả guồng máy nhà nước dân sự cũng như quân sự. Nhất là chính sách kỳ thị tôn giáo rõ rệt. Ngày lễ Noel trường học được nghỉ, trong lúc ngày lễ Phật Đản bị huỷ bỏ trong học đường cũng như trong chính quyền và quân đội… Tôi nghe người ta nói mỗi người – ngay cả những bậc thông minh, kỳ tài – đều có một “điểm mù”. Có khi đây chính là “điểm mù” của toàn bộ thành viên họ Ngô Đình chăng?

Sự chống đối chính quyền gia đình trị họ Ngô cứ âm ỉ, ngày càng mạnh mẽ và căng thẳng hơn. Đặc biệt trong giai đoạn này là vụ tự tử của nhà cách mạng, nhà văn nổi tiếng Nhất Linh - Nguyễn Tường Tam để lại nhiều bùi ngùi thương tiếc. Những thiện cảm mà quần chúng dành cho ông Ngô Đình Diệm trong những năm đầu ông vể nước giờ đã tiêu tan. Không thể chịu nổi tình trạng này, một số đơn vị quân đội đã nổi dậy chống đối.