Danh Ngôn

Những nhà văn xuất chúng luôn luôn là những nhà phê bình nghiêm khắc nhất đối với chính tác phẩm của mình.

(The best authors are always the severest critics of their own works.)

Lord Chesterfield, chính khách, nhà văn Anh. (1694-1773). Thư gởi con trai, 6 tháng Năm 1751

Tôi có một nhà phê bình đòi hỏi quá quắt hơn các bạn: đấy là cái tôi thứ hai của tôi.

(I have a critic who is more exacting than you: it is my other self.)

Jean Meisonier, họa sĩ Pháp. Trong tuyển tập của Alice Hubbard, An American Bible, tr. 192, 1946

Hỏi một nhà văn đang sáng tác ông ta nghĩ gì về các nhà phê bình cũng giống như hỏi một cột đèn cảm thấy thế nào về các con chó.

(Asking a working writer what he thinks about critics is like asking a lamppost how it feels about dogs.)

Christopher Hampton, nhà soạn kịch sinh tại Bồ Đào Nha 1946 hiện sống tại Anh. Trong Sunday Times, (London), 16 tháng Mười 1977

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Nghiên cứu trẻ Việt Nam trước “bước ngoặt nhân học”

Đỗ Lai Thúy


Nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lớn, “bước ngoặt nhân học”. Đã đến lúc nghiên cứu văn học không thể chỉ dùng các phương pháp thuần túy của chính nó, mà phải kết hợp với các phương pháp khác của khoa học xã hội và nhân văn. Trong đó, quan trọng hơn cả là nhân học, đặc biệt nhân học văn hóa.

Điều này đòi hỏi nhà nghiên cứu trước hết phải có tri thức liên/xuyên ngành. Tuy nhiên, đấy mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải đủ. Nhà nghiên cứu phải trở nên độc lập, độc lập về kinh tế và độc lập về tư tưởng, nhất là tư tưởng học thuật.

Ở xã hội bao cấp hoặc bán bao cấp, đòi hỏi tự chủ kinh tế hoàn toàn là điều khó, tự chủ tư tưởng còn khó hơn, nhưng không làm được điều kiện sau thì không thể trở thành nhà nghiên cứu độc lập. Anh ta phải dám từ bỏ những gì đã được dạy dỗ trong nhà trường để nhẹ bước vào một hành trình mới. Và, điều này dường như dễ dàng hơn với những người trẻ.

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 30): Cao Xuân Huy

TIỂU SỬ CAO XUÂN HUY

CXH 1

09-1947 năm sinh, quê nội Bắc Ninh, quê ngoại Hà Nam, Bắc Việt

10-1954 di cư vào Nam với mẹ

02-1968 đi lính Thuỷ Quân Lục Chiến, VNCH.

03-1975 bị bắt làm tù binh

09-1979 ra tù.

12-1982 vượt biên.

10-1983 đến Mỹ.

1984 định cư tại Nam California.

2005 chủ biên tạp chí Văn Học tới 04-2008

11-2010 mất tại Lake Forest, Nam California

Tác phẩm:

Tháng Ba Gãy Súng, 1985

Vài Mẩu Chuyện, 2010

Nguồn: https://hopluu.net/a2892/thang-ba-gay-sung-mot-cao-xuan-huy-khac

Vải bao cát

Toàn mơ màng, suy nghĩ. Đã nhiều lần anh chàng tự nhủ, ừ, tại sao lại không, tại sao lại không nghĩ nhỉ. Không có gì quý hơn độc lập tự do, thì tại sao lại không tận hưởng cái quyền độc lập và tự do không giới hạn này, nghĩ. Nghĩ thế, Toàn cứ một mình tiếp tục ung dung suy nghĩ, đố đứa nào báo cáo, chúng mày có giỏi thì kiểm thảo xem. Nghĩ, miên man hết chuyện này sang chuyện khác. Chuyện giày cao gót, chuyện giày saut, chuyện dép râu, rồi thì chuyện củ sắn củ khoai… Kể cả chuyện một mai anh trở về dang dở đời em…
Ấy thế mà, cái phần gia tài duy nhất ấy rồi cũng cạn dần theo năm tháng. Toàn bây giờ như phiến đá, như cây rừng. Thôi ngủ yên đi con, ngủ cho qua cơn mộng dữ này. Đừng vui, đừng buồn, đừng hy vọng thì lấy gì mà tuyệt vọng.

TUYÊN BỐ VỀ QUYỀN SỞ HỮU ĐẤT NHÂN MỘT NĂM SỰ KIỆN ĐỒNG TÂM (cập nhật đợt 3, với 16 tổ chức và 171 cá nhân ký tên)


Sự việc

Sự kiện Đồng Tâm xảy ra một năm trước đây đã đánh dấu bước ngoặt mới trong phong trào phản kháng của người dân đối với chính sách đất đai của nhà nước. Nếu trước đó nhiều dân oan mất đất chỉ biết kéo nhau đi khiếu kiện đông người một cách ôn hòa, thì ở Đồng Tâm lần đầu tiên dân chúng trong một xã đã tổ chức quy củ dùng thế hợp pháp kết hợp dân vận, binh vận, lập làng chiến đấu, kiên quyết đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình buộc chính quyền phải nhượng bộ.

Một năm sau sự kiện Đồng Tâm, tuy sự đối đầu giữa người dân và chính quyền tạm thời lắng dịu, nhưng ngòi nổ của sự phản kháng và bất ổn xã hội vẫn chưa được tháo gỡ. Người dân không chỉ riêng ở Đồng Tâm, mà ở khắp mọi nơi trong cả nước, đều thấy rõ các giải pháp của chính quyền từ trung ương đến địa phương hầu như chỉ nhằm đối phó sự phản kháng một cách tạm thời để răn đe hoặc xoa dịu. Gốc rễ của vấn đề vẫn chưa được giải quyết, đó chính là chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai.

Một vị ngọt không thường

Ý Nhi

9.NGOT NHU CA PHEGặp gỡ, quen biết rồi thân thiết với Ngô Thị Kim Cúc đã trên dưới 40 năm. Vậy mà, nhiều khi tôi không sao ráp được hình ảnh người phụ nữ điệu đà,in fashion từ chiếc áo, đôi giày, đến màu son, kiểu tóc với giọng văn giàu trải nghiệm, giàu suy nghiệm.

Dường để giải tỏa phần nào nỗi băn khoăn, có lần, tôi thử hỏi về tựa đề có phần khác lạ của một tác phẩm của chị: Ngọt như cà-phê. Nhà văn đã cười mà rằng: Ngọt răng được. Nghề văn cũng đắng ngắt như cà-phê vậy.

Không hiểu sao, câu trả lời ấy lại khiến tôi nhớ tới một truyện ngắn Ngô Thị Kim Cúc viết cách đây gần 40 năm: Vị ngọt hòa bình một vị ngọt chứa chất nhiều lo âu, ray rứt, đắn đo.

Phải chăng, Ngọt hay Vị ngọt trong tác phẩm của Ngô Thị Kim Cúc là một biệt vị và văn chương của chị vốn chứa nhiều ẩn tự?

Người dân Đồng Tâm gửi tâm thư tới Hội nghị Trung ương 7

Nguyễn Đăng Quang

19-4-2018

Chiều qua (18/4/2018), cụ Lê Đình Kình gọi điện cho tôi kể về buổi mít tinh kỷ niệm một năm ngày xảy biến cố Đồng Tâm. Buổi lễ diễn ra đã 3 ngày, cụ nói vẫn còn khá mệt, song tỏ ra vô cùng phấn khởi. Cụ cho biết, buổi lễ kỷ niệm đã vượt qua mọi cản trở bởi chính quyền không muốn buổi lễ kỷ niệm này diễn ra, nhưng nó vẫn diễn ra và thành công mỹ mãn! Đồng thời cụ cho tôi biết, nhân dịp này, người dân xã Đồng Tâm đã gửi một TÂM THƯ đến Hội nghị Trung ương 7 sắp nhóm họp vào cuối tháng 4 hoặc đầu tháng 5 tới.

Ngay sau đó cụ đã chuyển cho tôi toàn văn bức “TÂM THƯ của NGƯỜI DÂN ĐỒNG TÂM gửi HỘI NGHỊ LẦN THỨ 7 BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐCSVN (Khóa  XII)”. Cụ nhờ tôi công bố “Tâm thư” này lên mạng, nhưng do FaceBook của tôi bị kẻ xấu đánh sập từ chiều hôm 14/4/2018 đến giờ vẫn chưa khôi phục được, nên tôi gửi và nhờ các trang mạng xã hội chuyển tải bức “Tâm thư” này đến các bạn đọc xa gần, dư luận rộng rãi trong và ngoài nước biết để cùng nhau chia sẻ!

Quân hàm tướng sao vàng láp lánh (tiếp)

Lý Trực Dũng

Điên quá, hôm nay đành phải đốt thêm một cái quân hàm tướng hai sao vàng lấp lánh. Mấy thằng ngu, làm tao mất mặt quá.Thử hỏi xem có cái nước nào trên thế giới này chỉ trong vài tuần mà có ba thằng tướng công an bẩn bị bắt, bị tước quân hàm không?

Văn học miền Nam 54-75 (461): Phan Nhật Nam (kỳ 1)

Kết quả hình ảnh cho "Phan Nhật Nam" 

Phan Nhật Nam tên thật là Phan Ngọc Khuê sinh ngày 9 tháng 9 năm 1943 tại Nại Cửu, Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Cha ông là Phan Văn Trình gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam là cán bộ kháng chiến chống Pháp, năm 1954 tập kết ra Bắc Việt Nam. Năm 1963, ông tốt nghiệp khóa 18 Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt với cấp bậc Thiếu uý và được chọn vào Binh chủng Nhảy Dù. Trước biến cố 30 tháng 4 năm 1975, ông đã mang cấp bậc Thiếu tá của Binh chủng này.

Ông là một nhà văn của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Tác phẩm đầu tay của ông là cuốn Dấu Binh Lửa (1969). Tiếp theo là các tác phẩm: Dọc Đường Số Một, Ải Trần-gian (1970), Mùa Hè Đỏ Lửa (1972), Dựa Lưng Nỗi Chết (1973) và Tù Binh và Hòa Bình (1974). Những tác phẩm của ông đều lấy Chiến tranh Việt Nam làm bối cảnh.

Sau 1975, ông bị bắt giam vào trại tập trung cải tạo 14 năm (1975-1989), nhiều lần bị biệt giam hàng năm trời trong hầm tối. Ông cũng làm ra nhiều bài thơ.

Năm 1993 ông sang Mỹ định cư và cho ra mắt những tác phẩm: Những Chuyện Cần Được Kể Lại, Đường Trường Xa-xăm (1995), Đêm Tận Thất-thanhMùa Đông Giữ Lửa (1997). Năm 2002 cuốn Những Chuyện Cần Được Kể Lại được phát hành với ấn bản tiếng Anh dưới tựa The Stories Must Be Told.

Tác phẩm Mùa hè đỏ lửa của ông được Giải thưởng Văn học Nghệ thuật của Tổng thống Việt Nam cộng hòa năm 1973.

Theo Wikipedia

Thơ Việt từ hiện đại đến hậu hiện đại (kỳ 12)

Inrasara

NGUYỄN TÔN HIỆT

Làm thơ (và chủ trương “THƠ THỰC HIỆN”) và viết văn (tuỳ bút, nhận định, luận chiến...). Có nhiều bài đăng trên Tiền Vệ và Talawas

Đã xuất bản:

[cùng 22 tác giả khác] trong Khoan cắt bê tông, NXB Giấy Vụn, Sài Gòn, 2005

[cùng 46 tác giả khác] trong Có jì dùng jì – có nấy dùng nấy, NXB Giấy Vụn, Sài Gòn, 2007

[cùng 68 tác giả khác] trong Tuyển Tập Tiền Vệ I, NXB Tiền Vệ, Sydney, 2007

[tập thơ] Thơ Thực Hiện & những bài thơ khác, NXB Giấy Vụn, Sài Gòn, 2009.

Thơ tuyển

Giải hoặc

Thơ: cái gì lơ lửng

Diễn văn của nhà thơ

Quán tính

Trăm năm trong cõi | Người ta

Chỗ nào khô thì ngủ qua đêm

Thơ Trần Quốc Toàn

LINH GIÁC TRẮNG (2)

Trong chiêm bao những quả chuông rụng xuống
Trong chiêm bao nỗi đau mọc trên da tôi
Phân thân làm một loài trùn cô độc
Trong chiêm bao tình yêu thật lạ lùng
Đến nỗi bức tranh gió chuyển dòng chảy của Đại Tây Dương
Trong chiêm bao dòng chảy xối xả tràn qua mắt, tai và chiếc mũi con mèo trắng
Tôi tách cái bóng thế gian ra khỏi mọi vật
Rừng thông mù sương lửa đỏ ráng chiều
Trong chiêm bao cây tử cung sinh nở những ấu trùng đỏ

Sinh ra từ trứng (kỳ 8)

Tiểu thuyết của Nguyễn Viện

Di chúc của ông họa sĩ

Trong căn phòng tầng áp mái, phiên tòa đã diễn ra hoàn toàn im lặng. Mỗi bức tranh là một vành móng ngựa đồng thời là một quan tòa. Bị cáo vắng mặt, bởi vì ông họa sĩ đã tự sát khi tôi báo tin cho ông biết tất cả các nhân vật của ông đều là anh em tôi và được sinh ra từ trứng và tôi muốn giết ông. Ông nói, “Đã đến lúc tôi nên chết. Hãy giết tôi".  Nhưng tôi đã không giết ông, tôi muốn để ông tự chết với các nhân vật của mình. Rồi tôi từ giã ông cùng ý định sẽ không bao giờ gặp ông nữa, cũng như một quyết định cho chính tôi, chấm dứt mọi sự viết lách hoặc đóng phim vớ vẩn. Điều này cũng có nghĩa tôi sẽ từ bỏ tất cả các cô gái đã từng mang lại những cảm xúc cho tôi. Tôi muốn trở về với mẹ.

TUYÊN BỐ VỀ QUYỀN SỞ HỮU ĐẤT NHÂN MỘT NĂM SỰ KIỆN ĐỒNG TÂM (cập nhật đợt 2, với 9 tổ chức và 140 cá nhân ký tên)


Sự việc

Sự kiện Đồng Tâm xảy ra một năm trước đây đã đánh dấu bước ngoặt mới trong phong trào phản kháng của người dân đối với chính sách đất đai của nhà nước. Nếu trước đó nhiều dân oan mất đất chỉ biết kéo nhau đi khiếu kiện đông người một cách ôn hòa, thì ở Đồng Tâm lần đầu tiên dân chúng trong một xã đã tổ chức quy củ dùng thế hợp pháp kết hợp dân vận, binh vận, lập làng chiến đấu, kiên quyết đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình buộc chính quyền phải nhượng bộ.

Một năm sau sự kiện Đồng Tâm, tuy sự đối đầu giữa người dân và chính quyền tạm thời lắng dịu, nhưng ngòi nổ của sự phản kháng và bất ổn xã hội vẫn chưa được tháo gỡ. Người dân không chỉ riêng ở Đồng Tâm, mà ở khắp mọi nơi trong cả nước, đều thấy rõ các giải pháp của chính quyền từ trung ương đến địa phương hầu như chỉ nhằm đối phó sự phản kháng một cách tạm thời để răn đe hoặc xoa dịu. Gốc rễ của vấn đề vẫn chưa được giải quyết, đó chính là chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai.

Ngày hội tiếng Đức và cuộc thi hát tiếng Đức

Viện Goethe thân mời các bạn đến với ngày hội tiếng Đức được tổ chức bởi khoa Đức trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn cùng các tổ chức khác của Đức.

Từ 9h sáng ngày 22/04/2018 sẽ có nhiều hoạt động phong phú và các trò chơi thú vị liên quan đến việc học tiếng Đức, đất nước và ẩm thực Đức.

Vào cuối chương trình sẽ có cuộc thi hát karaoke tiếng Đức. Mười đội của các bạn trẻ học tiếng Đức sẽ tham gia vào cuộc thi với những bài hát tiếng Đức nổi tiếng. Cuộc thi sẽ được bắt đầu lúc 13h.

Chúng tôi rất hân hạnh được đón tiếp các bạn.

Văn hóa, văn hóa, văn hóa

Từ Thức

Blogger Từ Thức vừa gửi cho Văn Việt tạp bút mới viết của anh, về văn hóa. Văn hóa với sức mạnh thật sự của nó trong một thế giới đang tràn ngập kỹ thuật nhưng thiếu vắng rất nhiều về tư tưởng, triết học.

Trong xã hội Việt Nam đúng thời điểm hiện tại – tháng 4/2018, bài viết này gợi mở nhiều suy nghĩ cho chúng ta, với từng công dân Việt, dù là người quan tâm và có tham gia các hoạt động xã hội, hay ngay cả những người chưa quan tâm hoặc đang cố tránh né những vấn đề xã hội tuy rất thiết thân với đất nước.

Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

Văn Việt

Hình ảnh có liên quanTrước Gramsci (1891-1937), có người nghĩ văn hoá giải thích tất cả. Sau Gramsci, người ta BIẾT văn hóa giải thích tất cả, quyết định tất cả. Antonio Gramsci, một lý thuyết gia chính trị Ý, ít được nhắc tới ở Việt Nam, trước đây là cẩm nang của những phong trào chính trị, cách mạng trên thế giới, ngày nay là tác giả gối đầu giường của các chính trị gia, thuộc mọi khuynh hướng, từ cực tả tới cực hữu, ở Âu Châu.

Gramsci đã hệ thống hóa lý thuyết dùng văn hóa để giải thích xã hội, chính trị và, từ đó, coi văn hóa là võ khí để đấu tranh. Những yếu tố khác, đứng đầu là kinh tế, chỉ là thứ yếu.

Muốn thay đổi xã hội, không thể hà tiện một cuộc cải cách văn hoá từ gốc rễ. Phải thay đổi tư duy, nếu muốn thực sự thay đổi xã hội. Nếu không, sẽ chỉ là những cuộc nổi loạn, những cuộc đảo chánh.

Đêm “Lộc Vàng – cung đàn số phận”

(Rút từ facebook của Hoàng Hưng)


Nhà hàng Thác Bạc 46 An Dương, Hà Nội (ĐT 0911692698) chuyên đặc sản cá hồi-cá tầm của luật sư Nguyễn Trọng Cử ở 46 An Dương, đêm nay (16/4/2018) có một sự kiện đặc biệt: khai trương phòng hát trên lầu, dành cho đêm “Lộc Vàng – cung đàn số phận”. Đây sẽ là nơi trình diễn mới của người ca sĩ Hà Nội xưa mà chủ nhân quán cá ưu ái tặng cho ông hằng đêm thứ Tư và thứ Bảy. Đêm khai trương cũng là đêm kỷ niệm 50 năm vụ án “nhạc Vàng” hay còn gọi là vụ “Toán Xồm”. Năm 1968, bảy chàng trai Hà Nội thụ án mỗi người chục năm vì hát “nhạc vàng” (cáo trạng gọi là “nhạc đồi truỵ”!). Giờ đây còn lại mỗi Nguyễn Văn Lộc – chết danh “Lộc Vàng” từ khi anh được hát trở lại. Nhà báo Lưu Trọng Văn dẫn chương trình. Rất đông mặt anh hùng đất Hà thành: nhà giáo Phạm Toàn, người Hà Nội cao tuổi nhất ở đây, TS Nguyễn Quang A, TS Nguyễn Xuân Diện, nhà nghiên cứu văn học Đỗ Lai Thuý, nhà báo Trần Tiến Đức, đạo diễn Trần Quốc Trọng, đạo diễn Lưu Trọng Ninh, kiến trúc sư Trần Thanh Vân, nhà văn Phạm Ngọc Tiến, nhà văn Phạm Lưu Vũ, nhà báo Kỳ Duyên-Kim Dung (người chấp bút cuốn hồi ức “Cung đàn số phận” chưa được phát hành nhưng sách lậu đã bán đầy đường Hà Nội), nhà nhiếp ảnh Nguyễn Đình Toán – người đã ghi lại tấm hình “lịch sử” Lộc Vàng đưa điếu thuốc lá cho bạn Toán Xồm chỉ vài ngày trước khi anh chết rấp trên vỉa hè Hà Nội…, cùng nhiều gương mặt trẻ lớn lên đã thoải mái hát những bài ca lãng mạn mà không hề biết chúng từng là đồ “quốc cấm” còn kinh hơn thuốc phiện!

Tôi may mắn ra Hà Nội đúng dịp này. Nửa tháng trước, đã không cầm được nước mắt khi đọc status của Lưu Trọng Văn viết về câu chuyện đau thương này. Đêm nay ngồi nghe mới mấy bài Lộc Vàng hát mà gai hết người, thơ ở đâu vụt về mấy dòng, bèn ghi vội sổ tay. Văn giới thiệu tôi lên, nói đây là nhà thơ người Hà Nội mà “số phận trớ trêu” cũng theo chân 7 chàng trai kia “lên rừng” vài năm, không vì “nhạc vàng” mà vì “thơ vàng” (“Về Kinh Bắc”). Đúng thế! Tôi gặp Toán Xồm lần đầu sau khi anh được về vài năm. Nghe anh hát ở quán rượu Hoàng Cầm. Mấy ngày sau thì tôi “lên đường”. Vậy là số phận đau thương đã lặp lại, không còn là số phận cá nhân, mà là số phận của văn hoá, số phận cả dân tộc!

“Anh Sáu kêu gỡ bài xuống!”

Thảo Vy

(VNTB) Hiện nay, có nhà báo nào ở Sài Gòn ‘dám’ viết trên trang facebook cá nhân về những lùm xùm đất đai liên quan đến Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Tất Thành Cang, đều nhận được điện thoại từ ông Nguyễn Đức Thọ, đương nhiệm Chánh Thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông TP.HCM, rằng: “Anh Sáu kêu gỡ bài xuống!”.

‘Anh Sáu” là cách gọi thân mật đối với Phó Bí thư Thường trực Tất Thành Cang.

Quận 2: lãnh địa của nhóm quyền lực dòng họ Lê – Trương?

Nhà báo Nguyễn Tường Minh, cựu phóng viên báo Sài Gòn Giải Phóng, hiện là chủ biên báo Người Tiêu Dùng, cho rằng đã đến lúc cần nhìn thẳng vào chuyện người dân mất đất ở Thủ Thiêm; trong đó có Hòa thượng Thích Không Tánh, chủ trì Chùa Liên Trì đã bị cướp đất thô bạo, tất cả đều liên quan đến ông Tất Thành Cang khi ông là Bí thư Quận ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận 2 từ năm 2009 đến năm 2012.

Nhà báo Nguyễn Tường Minh kể: “Đây là bức ảnh chụp vào ngày 2/5/2015, giữa buổi họp được chủ trì giữa Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Nguyễn Chiến Bình (ông 6 Bình) và Phó Chủ tịch UBND TP.HCM Tất Thành Cang (ông 6 Cang), bàn về vấn đề Thủ Thiêm. Ông 6 Cang từng thời gian nhiều năm trấn giữ chức vụ Bí thư Quận ủy Quận 2, cũng là một trong những quan chức liên quan trực tiếp đến quá trình xử lý khiếu nại tố cáo đền bù đất đai dai dẳng tại khu đô thị Thủ Thiêm, TP.HCM. Có một điều phải nhìn nhận, đã quá nhiều năm, giới chức Sài Gòn dường như kín kẽ khi nhắc về vấn đề giải quyết khiếu nại, khiếu kiện kéo dài của người dân Thủ Thiêm. Mọi người dường như cố tránh né về thực tế rất nhiều người dân nghèo đã phải đánh đổi phần đất chôn nhau cắt rốn gia đình mình để phục vụ cho sự phồn vinh và thay đổi giàu sang của Quận 2 ngày nay”.

Thơ Việt từ hiện đại đến hậu hiện đại (kỳ 11)

Inrasara

LÝ ĐỢI

Sinh năm 1978 tại làng Khúc Lũy, Điện Minh, Điện Bàn, Quảng Nam. Cử nhân Văn chương, 2001. Tính đến 2008, sau năm năm cầm bút, đã in ba tác phẩm cá nhân, khoảng hai mươi lăm tác phẩm in chung tại Việt Nam và nước ngoài. Thơ và thơ dịch cũng có mặt tại một số tạp chí, trang web chuyên văn học bằng tiếng Việt và tiếng Anh trên lưới trời. Cũng có tham gia trình diễn thơ, thuyết trình, làm phim tài liệu, workshop và triển lãm tại Viện Goethe, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đức…, và Việt Nam. Thành viên trụ cột của Mở Miệng, gồm Bùi Chát, Khúc Duy, Nguyễn Quán, Lý Đợi và những người khác. Đồng khởi xướng và cổ xuý cho phong trào in tác phẩm photocopy tại Việt Nam. Đồng chủ trương Nhà xuất bản Giấy Vụn. Hiện sống tại Sài Gòn, hành nghề báo chí.

Tuyển thơ

Lời hứa của Doi Ly

Họ đã gọi tôi đến Nước Thơ

Định chế [hay là luật] của cầu tiêu công cộng

Một nhà thơ bị đánh chết

Món 1: Luộc | Món 2: Hấp | Món 3: Ăn sống

Hà Nội

Dạ, em xin khai, rồi lại xin thề

Chạy

Danh-dao-dĩ-nhậu

Sinh ra từ trứng (kỳ 7)

Tiểu thuyết của Nguyễn Viện

Những đứa con của người đàn bà sinh ra từ trứng

Những gì xảy ra ở miền Bắc với gia đình tôi, sau này được mẹ và chị tôi kể lại, như những mảnh vụn của tấm kính thủy tinh vỡ, sắc nét nhưng không làm tôi chảy máu. Những mảnh vụn ấy đâm sâu vào tôi tạo nên những vết chai tật trong linh hồn. Một cách nào đó, tôi đã trở nên thờ ơ. Tôi như sự xa lìa, không chối bỏ nhưng dị ứng với nguồn cội. Tôi không nghĩ khoảng cách về thời gian đã làm tôi xa lạ, nhưng cái được bồi đắp trong 21 năm chia cắt ấy đã định hình tôi và những người còn lại trong gia đình một thứ nhân thế so lệch.

Trong khi miền Bắc được tẩy não và thuần phục tuyệt đối một cha già kính yêu vĩ đại và một chủ nghĩa sắt máu, lịch sử như mới bắt đầu, thì tôi, đứa con của man rợ châu Phi thẩm thấu cái ngông cuồng lãng mạn của hoàng đế Napoléon lại được tắm rửa bằng thứ phẩm hạnh tự do không bờ bến từ các bố già như Jean Paul Sartre, André Gide, Albert Camus và đặc biệt Antoine de Saint-Exupéry. Tôi lớn lên như một cậu nhóc của “Bắt Trẻ Đồng Xanh” (J. D. Salinger) nổi loạn. Mê đắm cái nghịch thường của phong cách và tư tưởng.

Ghi chép từ Dran

Vũ Thành Sơn

Chúng tôi đến Dran vào một ngày mùa Xuân, khởi hành từ Phan Rang, vượt qua đèo Ngoạn Mục hùng vĩ và đỉnh Eo Gió.

Chiếc xe đi Dran - Đà Lạt mười sáu chỗ ngồi nhưng có lẽ vì còn trong Tết, nhu cầu đi lại tăng cao nên tài xế không bỏ lỡ cơ hội, khai thác tối đa, kê thêm những chiếc ghế nhựa làm ghế phụ, nhồi nhét hơn hai mươi con người cùng với hàng hóa, hành lý chất đầy sau lưng và dưới chân làm cho chuyến đi trong phút chốc trở thành một cuộc chen chúc, ngột ngạt. Suốt lộ trình, ni cô trẻ ngồi bên cạnh tôi một tay vắt ngang mặt như thể đang chìm sâu trong một giấc mộng dài bất tận. Hàng quán, trường học, công sở… vắng lặng. Leo gần đến đỉnh dốc Eo Gió tôi cố nhìn xuống thung lũng và hồ Đa Nhim nằm bên dưới nhưng không thể phóng tầm mắt qua khỏi những cái đầu lố nhố chen chúc bên nhau. Chỉ có thể bắt gặp ngoài xa một lát cắt trời xanh rất trong, ràn rụa nắng. Vào mùa này, hoa dã quỳ chỉ lác đác trên đường với vài cụm vàng phất phơ trước gió.

Kỳ quan thế giới mới

Lý Trực Dũng

Năm 2.000 tôi vẽ cái tranh "NHÀ SIÊU MỎNG HÀ NỘI ĐỀ CỬ CHO 7 KỲ QUAN THẾ GIỚI". Nhà siêu mỏng trong tranh của tôi dày 52 cm, tưởng Nhà Siêu Mỏng Hà Nội đề cử cho 7 kỳ quan thế giới mới đã siêu.
Ai ngờ 2018 ở Việt Nam ta có nhà xây đàng hoàng chỉ mỏng có 42 cm! (Ảnh lấy trên mạng FB không rõ tác giả. Xin phép được sử dụng).
Với tư cách là một Kiến trúc sư, tôi xin đề nghị Hội Kiến trúc sư Việt Nam và Liên đoàn Kiến trúc thế giới UIA trao tặng ngay giải thưởng lớn cho tuyệt phẩm kiến trúc này.

Không thể hiểu: đạo văn mà vẫn được phong giáo sư

Chính Tâm

clip_image002[4]

clip_image003[4]

clip_image005[4]

Trong một bài viết đăng trên vnexpress.net (ngày 5/3/2018), GS Lương Văn Hy cho biết, ở Mỹ hay Canada, “Với giảng viên, giáo sư, phó giáo sư, việc không được đạo văn, dù chỉ vài câu, là quy tắc bất thành văn, nếu vi phạm họ phải chịu chế tài nặng” và “Những vi phạm này dù xảy ra 5, 10 hay 20 năm trước, sau mới phát hiện ra cũng bị xem là rất nghiêm trọng, có thể bị miễn nhiệm.”

Ấy thế mà ở Việt Nam, trong ngành Ngôn ngữ học, có ông Nguyễn Đức Tồn đạo văn một cách có hệ thống từ năm 2002, vẫn được phong Giáo sư, ngồi các Hội đồng chấm luận văn, luận án, thậm chí còn tham gia Hội đồng chức danh Giáo sư ngành Ngôn ngữ học để bỏ phiếu bầu hay không bầu các ứng viên cho chức danh GS/PGS. Với công trình đạo văn này, ông Nguyễn Đức Tồn được phong Giáo sư, làm Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học, Tổng biên tập Tạp chí Ngôn ngữ.

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 29): Nguyễn Tất Nhiên

Kết quả hình ảnh cho Nguyễn Tất Nhiên (1952 - 1992), tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, là một nhà thơ nổi tiếng ở miền Nam Việt Nam trước 1975.

Năm 1980, anh sang định cư tại Pháp, rồi cuối cùng sang Mỹ sống ở Quận Cam. Năm 1987, anh gia nhập Hội Nhà Văn Việt Nam Lưu Vong. Sau anh lấy vợ có tên là Minh Thủy, rồi có với nhau hai đứa con trai.

Ngày 3 tháng 8 năm 1992, người ta thấy anh nằm chết trong một xe hơi cũ, đậu dưới bóng cây trong sân chùa tại California. Mộ Nguyễn Tất Nhiên nằm trong Vườn vĩnh cửu thuộc nghĩa trang Westminster phía tây Little Saigon (California), và thường được du khách Việt đến thăm viếng.

Tác phẩm đã in sau 1975:

· Thơ Nguyễn Tất Nhiên (thơ góp nhặt từ 1969-1980, nhà xuất bản Nam Á - Paris in lần đầu tiên năm 1980)

· Những năm tình lận đận (tập nhạc 1977-1984, nhà xuất bản Tiếng Hoài Nam, Hoa Kỳ 1984)

· Chuông mơ (Thơ từ năm 1972-1987, nhà xuất bản Văn Nghệ - California, 1987)

· Tâm Dung (thơ, Người Việt 1989)

· Tính tình con gái 3 miền (Thơ)

Phố biển tôi về

Nguyễn Thị Thanh Bình


Phố biển ơi chiều nay sao phố lạ
Tôi trở về chẳng hiểu nổi vì đâu
Những cửa hàng nay thay chủ Nga Tàu
Nên bảng hiệu viết tiếng gì ai thấu

TUYÊN BỐ VỀ QUYỀN SỞ HỮU ĐẤT NHÂN MỘT NĂM SỰ KIỆN ĐỒNG TÂM

Sự việc

Sự kiện Đồng Tâm xảy ra một năm trước đây đã đánh dấu bước ngoặt mới trong phong trào phản kháng của người dân đối với chính sách đất đai của nhà nước. Nếu trước đó nhiều dân oan mất đất chỉ biết kéo nhau đi khiếu kiện đông người một cách ôn hòa, thì ở Đồng Tâm lần đầu tiên dân chúng trong một xã đã tổ chức quy củ dùng thế hợp pháp kết hợp dân vận, binh vận, lập làng chiến đấu, kiên quyết đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình buộc chính quyền phải nhượng bộ.

Một năm sau sự kiện Đồng Tâm, tuy sự đối đầu giữa người dân và chính quyền tạm thời lắng dịu, nhưng ngòi nổ của sự phản kháng và bất ổn xã hội vẫn chưa được tháo gỡ. Người dân không chỉ riêng ở Đồng Tâm, mà ở khắp mọi nơi trong cả nước, đều thấy rõ các giải pháp của chính quyền từ trung ương đến địa phương hầu như chỉ nhằm đối phó sự phản kháng một cách tạm thời để răn đe hoặc xoa dịu. Gốc rễ của vấn đề vẫn chưa được giải quyết, đó chính là chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai.

Văn học miền Nam (460): Tạ Tỵ (kỳ 9)

Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay

Thế Phong

Thế Phong và thủ bút

Tên: Đỗ Mạnh Tường. Bút hiệu: Thế Phong, Đinh Bạch Dân, Đường Bá Bổn. Sinh ngày: 10-7-1932 tại Nghĩa Lộ (Yên Bái). Viết văn từ năm 1952

Tác phẩm:
1. Truyện của người tình phụ, Đại Nam Văn Hiến tái bản, 1965
2. Khu rác ngoại thành, Trình Bày tái bản, 1966
3. Nửa đường đi xuống, Đời Mới tái bản, 1968
4. Thuỷ và T6, Đại Nam Văn Hiến tư bản, 1969
5. Nhà văn, tác phẩm và cuộc đời, Đại Ngã tái bản, 1970
6. Việt Nam Under Fire and Flames, thơ, Đại Nam Văn Hiến
7. South VN – The Baby in the Arms of the American Nurse, thơ, Đại Nam Văn Hiến
8. Thế Phong by Thế Phong, Tự sự kể, Đại Nam Văn Hiến
9. Asian Morning Western Music (With the Preface of Professor Lloyd Fernando), Đại Nam Văn Hiến, 1971
(và khoảng 30 tác phẩm Ronéotypé)

Nỗi buồn chiến tranh

Hồi ức Đào Như

Từ lầu cao, ngồi nhìn nắng chiếu sáng rực rỡ cả một vùng rộng lớn nóc phố Chicago và đỉnh tháp Sears Tower, Trọng suy nghĩ về Thạch Hùng, một bịnh nhân mà anh vừa gửi đến bác sĩ Fournier cách đây mươi phút. Anh nhớ lại trong buổi hội chẩn với bác sĩ Fournier về Thạch Hùng cách đó mấy tháng.

Bác sĩ Fournier nói với Trọng:

-Trong mùa Đông vừa rồi, cảnh sát nhặt anh ta dưới hầm của bến xe đò Greyhound, ở Downtown Chicago. Lần đầu tiên tôi gặp Thạch Hùng, anh ấy nói chuyện với tôi nửa tiếng Pháp nửa tiếng Mỹ. May mà tôi cũng có vài năm học tại Viện Đại học Lyon, tôi hiểu được anh ấy. Ngay những phút đầu gặp gỡ, anh anh nói chuyện với tôi có sức thuyết phục lắm. Anh ấy bảo anh ấy đến Mỹ từ phi trường quốc tế của Pháp, Orly, Paris. Anh miêu tả mùa đông Paris lạnh. Mùa thu Paris đẹp. Anh đã sống nương náu trong phi trường Paris nhiều năm, như một kẻ vô gia cư. Anh miêu tả người Pháp nói tiếng Pháp nghe hay, lảnh lót và âm điệu. Anh ấy cũng đi thăm Provence của nước Pháp. Anh xác định Provence là vùng đất miền Nam của Pháp, có nhiều di tích lịch sử văn học, quê hương của Alphonse Daudet. Anh đã viết những bài thơ ngay dưới cái cối xay gió, ở đó Alphonse Daudet đã viết truyện ngắn trữ tình “Les Etoiles”. Anh bảo với tôi, anh đi thăm Provence với cô bạn gái của anh, chính cô ấy mua vé máy bay cho anh một mình đi thăm nước Mỹ. Bây giờ thì anh nhớ cô bé ấy và anh khóc, anh than vãn: “Oh! Brigide Bardot, người em gái nhỏ bé của tôi ơi! Em xinh đẹp làm sao! Đôi môi em lúc nào cũng sẵn sàng chờ đợi anh...”. Đến đây thì tôi mới vỡ lẽ ra là anh ta bị hoang tưởng quá rồi. Anh còn nói thêm có cả Cathérine Deneuve tiễn đưa anh lên máy bay đi Mỹ... Đọc lại hồ sơ, Cảnh sát Chicago khi nhặt anh ấy trong hầm xe bus Greyhound ở trung tâm Chicago, họ tìm thấy trên ngực áo của anh ấy có một túi nylon trong đó có giấy giới thiệu của Trung Tâm Tâm Thần dành cho người Châu Á Thái Bình Dương tại Sacramento, gửi anh ấy đến Chicago để tìm bà con và để điều trị bịnh tâm thần theo lời yêu cầu của anh ấy...

‘Xóa tin xấu độc’: Facebook đang giúp chính quyền VN xóa quyền tự do ngôn luận?


Thiền Lâm

Vietnam – Cali Today news – Đã có những bằng chứng đáng thuyết phục cho thấy tổ chức mạng Facebook đã và đang “tiếp tay” cho chính quyền Việt Nam vi phạm nghiêm trọng quyền tự do ngôn luận – được quy định trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam đã ký kết vào năm 1982 và Facebook đương nhiên phải tôn trọng Công ước này.

Ngày 9/4/2018, 50 tổ chức xã hội dân sự, các nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền và các tổ chức truyền thông độc lập ở Việt Nam đã gửi một bức thư ngỏ tới nhà sáng lập Facebook ông Mark Zuckerberg về tình trạng nội dung thông tin trên Facebook của họ bị tháo gỡ và tài khoản bị khóa tại Việt Nam.

Có thể xem bức thư trên là giọt nước tràn ly sau một thời gian dài nhiều tài khoản facebook của giới đấu tranh dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam bị Facebook khóa một cách vô lý khi chỉ dựa vào chế độ report” của đội ngũ đông đảo dư luận viên công an và “lực lượng 47” của Bộ Quốc phòng.

Làm gì để “hạ nhiệt” lò lửa Long Hưng?

(PLO) - Loạt bài 10 kỳ phản ánh hệ lụy dự án “xóa trắng” xã Long Hưng, TP Biên Hòa, TP Đồng Nai lập “Khu đô thị sinh thái kinh tế mở Long Hưng” (do Liên hiệp HTX Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Đồng Nai - Dona.Coop) làm chủ đầu tư, trong các số báo vừa qua đã nhận được sự phản hồi nhiệt tình từ dư luận. Chưa bàn sâu về những sai phạm pháp luật nghiêm trọng của chính quyền Đồng Nai và chủ đầu tư trong quá trình thực hiện dự án này, trước tiên PLVN ghi nhận ý kiến chuyên gia về việc phải làm sao để những “lò lửa Long Hưng” không còn tiếp diễn.

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 28): Ninh Kiều – Bún chả

Tình cờ tôi đọc được truyện ngắn này trên Internet, tựa đề “Bún Chả” và tác giả là Ninh Kiều. Truyện không có gì éo le, gay cấn. Cũng chẳng lồng vào một tư tưởng nào cao siêu về nhân sinh, thế sự. Mà chỉ là những chi tiết đơn giản, bình thường, thậm chí rất tầm thường.

Nhân vật chính là bà Mẹ (viết hoa), không có tên. Năm 1949, để tránh chiến tranh, bà mẹ vào Sài Gòn đưa ông bố, tức là chồng và đứa con trai qua Pháp sống, sau đó, trở về Hà Nội để trông cửa hàng, nuôi ba đứa còn ở lại, đồng thời nuôi cả hai bố con bên Tây trong khi chờ ngày hòa bình để hai bố con trở về đoàn tụ như đã hứa hẹn. Năm 1954, chia đôi đất nước, họ không về. Bà mẹ thông cảm, vì chưa có gì bảo đảm là đã hết chiến tranh. Nhưng rồi đến năm 1975, chiến tranh chấm dứt hẳn, họ cũng không về.

Thế là bà mẹ buộc lòng phải tự mình khăn gói bay từ Hà Nội qua Paris thăm chồng và con, đúng ba mươi mốt năm sau ngày cả hai rời bến cảng nhà Rồng. Bố cũng như con viện cớ bận, không đi đón. Đã thế, vì con đã có gia đình, mà chồng cũng có gia đình, lấy một bà vợ Pháp, không thể ở chung được với ai, nên bà mẹ đành phải nhờ bà chị, vừa đón rước ở sân bay vừa cho ở trong nhà.

Không có phương tiện đi lại, lại cũng chẳng biết mô tê gì ở một thành phố đông đúc và xa lạ, muốn thăm hai người, bà mẹ chỉ biết lập đi lập lại chuyến hành trình “xuống lầu, đi bộ một quãng, lên xe buýt, xuống xe điện ngầm, đi bộ một quãng, rồi leo bốn tầng lầu” để gặp bố hoặc con; gặp xong, thì lại “xuống lầu, đi bộ một quãng, xuống xe điện ngầm, lên xe buýt, đi bộ một quãng, rồi leo lên tầng ba thì về đến nhà.” Lần nào cũng như lần nào, một trong những thứ mà bà không quên mang theo là món bún chả. Vì đó là món ăn mà cả hai bố con đều rất thích khi còn ở Hà Nội.

Trước hết, đi thăm con. Lần đầu, gọi điện thoại hẹn, khi đến nơi thì không gặp vì con đợi lâu quá phải đi. Lần sau, không cần hẹn, người mẹ lại đi thăm. Lần này, được gặp, nhưng bị trách.

“‘Sao Mẹ không gọi điện báo cho con biết trước.’

Người Mẹ nghe có tiếng động trong phòng ngủ của Con nhưng giả điếc.

‘Mẹ hãy hiểu cho con con có cuộc sống của con.’

Người Mẹ lặng lẽ bày món bún chả lên một góc bàn.

‘Con ăn đi.’

Con tiễn Mẹ ra cửa: ‘Mẹ đến thăm con lúc nào cũng được nhưng phải báo trước.’

Người Mẹ vin tay vịn xuống lầu: ‘Đến thăm Con mà gặp lúc không tiện cho con thì Mẹ về không sao cả.’

‘Hôm khác Mẹ nhé’ và cửa đóng lại.”

Con thì thế, chồng thì sao? Cũng như khi đến thăm con, thăm chồng, lúc nào người vợ cũng xách giỏ bún chả. Phiền là lần nào cũng thế, gặp được chồng, lại gặp cả vợ của chồng.Thành thử, cuộc sum họp vợ chồng trở thành một cuộc gặp gỡ buồn cười, không như ý bà mẹ.

“…trong buổi viếng thăm đầu tiên người Mẹ cũng được mời nước một cách lịch sự song những lần sau đó thì người Mẹ nhất định từ chối khéo vì thấy phiền hà chủ nhà quá. Nào ông chủ nhà phải đứng lên, kéo mặt kính tủ gỗ chưng các thứ bát đĩa, ly tách sắp xếp thứ tự đẹp mắt, để tìm cho ra bộ tách theo sự hướng dẫn của bà chủ nhà. Bà ấy quay lưng lại cái tủ gỗ mà vẫn hướng dẫn ông ấy rành mạch như chính mắt mình đang nhìn thấy. Khi ông chủ nhà lấy đúng cái bộ tách dành riêng cho khách, lấy đúng cái muỗng phù hợp với bộ tách nầy thì nghe tiếng bà chủ: ‘Bây giờ ông chỉ còn mỗi một việc là đun nước và đem nước ra cho tôi, sau đó thì mọi thứ tôi sẽ lo vì ông biết rõ là ông không thể nào trả lại đúng chỗ của nó, bộ tách nầy.’ Ông chủ nhà vào bếp nấu nước rồi mang cái phích nước nóng ra để trên bàn trước mặt bà ấy để bà ấy làm nốt công việc còn lại, trong yên lặng.”

Nhưng người mẹ vẫn không tỏ dấu nản lòng. Lần khác, không cần hẹn, bà cứ mang bún chả đi thăm, thì bị ông chồng trách sao đến mà không báo trước. Trách thì trách, người vợ cứ bày bún chả lên bàn cho chồng ăn. Lại bị trách, vì bây giờ, ông chẳng thích bún chả nữa. Không sao. Bà cảm thấy dễ chịu, thoải mái vì đây “là lần đầu tiên, từ hôm từ Hà Nội qua Paris đến giờ, hai vợ chồng mới ngồi riêng được với nhau, không có người thứ ba, không phải nghe tiếng Pháp.”

“Lần nầy chỉ có mỗi hai người, tự nhiên người Mẹ bạo dạn đứng lên đến xem từng tấm ảnh đóng khung treo trên tường.

‘Thế bao nhiêu ảnh tôi gửi sang cho hai Bố Con đâu rồi nhỉ?’

‘Đây nầy, cất giữ đầy đủ cả’

Người Mẹ quay lại và nhận ra ngay vật kỷ niệm trong tay ông Bố, đó là cuốn anbom đã theo hai Bố Con qua Tây. ‘Thế ông giữ anbom ở đây thì con nó có gì để xem.’ Ông Bố gắt ‘Thế bà muốn tôi trao cho nó để mất hết cả à.’

Thế rồi quá khứ kéo họ xích lại gần nhau, không ai mời ai, họ cùng ngồi bên nhau trên chiếc ghế dài để ôn lại khá khứ và ngắm đàn cháu của tương lai. (…) Nhưng rồi ông như người ngủ quên chợt giật mình thức giấc, hốt hoảng đứng lên: ‘Ấy chết, bà ấy sắp về rồi.’ Người Mẹ cũng đứng lên, đến ghế lấy áo khoác mặc vào, xách cái giỏ không đi ra cửa. Lần nầy ông bước hẳn ra ngoài hành lang, mở đèn, gọi thang máy cho bà, mở cửa thang máy cho bà, giữ cánh cửa thang máy và nói với bà đã đứng bên trong ‘Bà ấy là người tốt, lúc tôi lao phổi nhờ bà ấy săn sóc nếu không tôi đã chết,’ rồi đóng cửa thang máy nên không kịp nghe tiếng người Mẹ: ‘Thế ông thấy tôi có nên cám ơn bà ấy không?’”

Trong mười ngày còn lại trước khi rời Paris về Hà Nội, người mẹ đi thăm viếng chào hỏi từ giã nhiều người và tỉ mỉ thiết lập lại tuần tự theo thời gian quãng đời của hai bố con trong ba mươi mốt năm nơi xứ lạ quê người. Rồi mỗi tối về nhà, người mẹ lại tâm sự với bà chị họ tốt bụng và bao giờ cũng chặc lưỡi hối tiếc: “Biết thế tôi chả cho hai Bố Con đi. Thằng bé nhà tôi nên người nhưng tôi thấy nó thế nào ấy. Còn Bố nó thì chỉ lo trả cho xong cái nợ săn sóc lúc ốm đau đủ mất mẹ cả một đời người, còn mong gì trông với nhờ.”

Câu chuyện chỉ có thế. Đọc đi đọc lại nhiều lần, cũng chẳng tìm thấy điều gì cao siêu, sâu xa; cũng chẳng tìm thấy tiếng khóc, nụ cười hay vẻ đăm chiêu, sự xúc động hay nỗi tiếc nuối của bất cứ nhân vật nào. Tác giả chỉ có mỗi một việc: diễn tả con người và sự việc y như chúng đã diễn ra, không mất công thêm thắt, pha chế, cũng chẳng cần biện giải hay suy đoán điều gì. Nhưng đọc xong, tôi cảm thấy bồi hồi, rất bồi hồi, tìm thấy tấm lòng vừa bao la, rộng lượng lại vừa sâu sắc của một người mẹ Việt Nam phải sống và chịu đựng một hoàn cảnh khá éo le, hậu quả của một giai đoạn lịch sử vô cùng bi thương của dân tộc.

Cuối cùng, người mẹ/người vợ trở về lại quê nhà, một mình, chẳng mang được gì, ngoài một số ý nghĩ “vớ vẩn” của người phụ nữ rất Việt Nam đó trong đoạn cuối của truyện, sau một chuyến viếng thăm lặng lẽ và buồn bã:

“Giá cứ mỗi khi sắp đánh nhau thì cứ phải hội các bà mẹ tất cả phe xem ý kiến các bà như thế nào, nhỉ! Mà cũng lạ thật, thường đánh nhau vì…, vì cái gì nhỉ, à… à… vì danh dự, chết vì danh dự. Đấy là tôi chuyện chung chung, không phải chuyện xứ mình, các ông ạ. Đàn bà chả thấy ai chết vì danh dự, các ông thì khối, vợ con có phải chết theo cũng được… thế đàn bà không có danh dự à. Có chứ nhưng nó chả được chiếu cố ưu tiên thế thôi. Có những thứ ưu tiên hơn, hơn… cái danh dự. Nói thật bụng thì các ông mắng cho chứ phải bán trôn nuôi con tôi cũng bán đấy.”

Thật đáng suy gẫm!

Trần Doãn Nho


Bún chả

Ninh Kiều

Người Mẹ chuẩn bị sẵn món bún chả từ mấy ngày nay, chỉ chờ dịp là đem đến cho Con ăn, vì không thể biết trước lúc nào thì gặp được nó.

Đã có lần gọi điện thoại gặp được thì nghe nó thúc: "Nếu mẹ muốn, mẹ đến ngay đi, con bận lắm". Người Mẹ vội vã xuống lầu, đi bộ một quãng, lên xe buýt, xuống xe điện ngầm, đi bộ một quãng, rồi leo bốn tầng lầu, đến nơi vừa thở vừa đọc mảnh giấy dán trên cửa: "Con không thể đợi mẹ được. Xin lỗi".

Sáng nay nghe tin Con đi công việc sở ở tỉnh mới về, người Mẹ xách cái giỏ bún chả vội vã xuống lầu, đi bộ một quãng, lên xe buýt, xuống xe điện ngầm, đi bộ một quãng, rồi leo bốn tầng lầu, đến nơi thì nghe Con nói: "Sao Mẹ không gọi điện báo cho con biết trước".

Người Mẹ nghe có tiếng động trong phòng ngủ của Con nhưng giả điếc.

"Mẹ hãy hiểu cho con, con có cuộc sống của con".

Người Mẹ lặng lẽ bày món bún chả lên một góc bàn.

"Con ăn đi".

Cha và Con và Thơ

Văn Việt giới thiệu: trình diễn Thơ của Hoàng Hưng và Hoàng Ly “Cha và Con và Thơ” tại Trung tâm Văn hoá Pháp l’Espace Hà Nội (trong chương trình “Mùa Xuân của các nhà thơ – Printemps des Poetes” hằng năm) năm 2008.

Văn học Miền Nam 54-75 (469): Tạ Tỵ (kỳ 8)

Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay

Thế Uyên

Kết quả hình ảnh cho "Thế Uyên và thủ bút" + talawas

Thế Uyên và thủ bút

Tên: Nguyễn Kim Dũng. Bút hiệu: Thế Uyên. Ngày sinh phỏng định: 16-3-1935 tại Cửa Ô Yên Phụ, Hồ Tây, Hà Nội. Ngày sinh đúng: 14 tháng 8 năm Ất Hợi. Viết văn từ năm 1960.

Tác phẩm:

1. Những hạt cát, truyện ngắn, 1964, Thời Mới xuất bản lần 1, 2 và 3

2. Mưa trong sương, kịch, Thời Mới xuất bản, 1964

3. Ngoài đêm, truyện ngắn, Nguyễn Đình Vượng xuất bản, 1965, Khai Trí tái bản 1970

4. Mười ngày phép của một người lính, đoản văn, Nam Sơn xuất bản, 1965, Khai Trí tái bản, 1971

5. Những ý nghĩ của bọt biển, đoản văn, Nam Sơn xuất bản, 1966

Dự án của Dona.Coop đẩy hàng ngàn dân vào cảnh điêu tàn: Sống bị triệt sinh kế, chết bị tai tiếng “tự tử trại giam”

(PLO) - Bao oan trái đã ập xuống đầu những nông dân xã Long Hưng, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai kể từ khi xuất hiện dự án “Khu đô thị sinh thái kinh tế mở Long Hưng” (do Liên hiệp HTX Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Đồng Nai – Dona.Coop, làm chủ đầu tư).

Án tù đã mang, có người đã chết oan khuất, sinh kế không còn, nhưng nhiều nông dân vẫn quyết bám trụ với nhà cửa vườn tược ruộng đồng. “Cuộc chiến” mới lại nổ ra, những nông dân yếu thế một lần nữa uất nghẹn chứng kiến những “mưu ma chước quỷ” hòng cắt nguồn sinh kế của họ.

Dự án của Dona.Coop đẩy hàng ngàn dân vào cảnh điêu tàn: Sống bị triệt sinh kế, chết bị tai tiếng “tự tử trại giam”

Rời khỏi QL51 đông nghẹt người xe, nhiều người xa quê vài năm nay tìm về Long Hưng cho hay đã không còn nhận ra quê cũ. Làng quê năm xưa nay đã bị “xóa sổ” gần hết. Con đường Hương lộ 2 mới xẻ đôi xã thành hai phần riêng biệt. Phía bên trái con đường là những bãi đất trống mênh mông. Trên những bãi đất ấy lồi lõm nhấp nhô dấu vết san lấp, lác đác đây đó những ngôi mộ bị đập phá nham nhở, những đống gạch vụn tàn tích các cuộc cưỡng chế. Làng quê trù phú ngày nào giờ không một bóng cây.

Dự án của Dona.Coop đẩy hàng ngàn dân vào cảnh điêu tàn: Từ điểm nóng đất đai đến 'lò lửa' oan án

(PLO)  46 nông dân bị án tù trong vụ “gây rối” ngày 17 - 18/2/2009 ở xã Long Hưng, mỗi bản án là một nỗi oan khuất thế nào, phiên xử có dấu hiệu ngụy tạo chứng cứ nhân chứng ra sao, đến bây giờ người ta mới được nghe.

Làng xóm khi xưa nay điêu tàn, “thành phố trong mơ” vẫn chỉ là những bãi đất nhấp nhô san lấp

Có người bị cho là chỉ vì bộc trực dám “mắng” lãnh đạo xã, mà bị vu là “cầm đầu”, bị tù năm năm. Bố đã như vậy, con trai cũng bị giam cả tháng trời, không kết tội được nhưng không một lời xin lỗi, không một xu bồi thường.

Thơ Trương Đình Phượng

TRÊN XÁC NGÀY

 

những cái chết mọc dậy
từ cái ác
sau một đêm hưng phấn
những đóa hoa màu mắt
đang rũa dần trong buổi sáng mù sương
bình minh như người thiếu phụ trần truồng bị hãm hiếp
và con đường dẫn qua dãy phố nghẹn đặc mùi tử khí
bốc lên từ khu nghĩa địa lòng người

trên những bàn tay nồng nặc rêu mốc
trong những chiếc sọ dịch não được chưng cất bằng sự cam chịu
lũ dòi bọ hân hoan với bữa tiệc thanh trừng

Tôi biết, cũng biết, nhưng mà…

(Rút từ facebook của Đỗ Ngọc Thống)

Tôi biết lâu nay mỗi khi nói về giáo dục, rất nhiều người phê phán: giáo dục Việt Nam chẳng giống ai, một mình một chiếu... Và cũng biết trong bối cảnh này, như NQ 29 của Đảng đã nêu: GD phải “chủ động hội nhập quốc tế”.

Tôi biết hội nhập quốc tế, trong đó có hội nhập về chương trình (CT) giáo dục là rất cần thiết. Và cũng biết CT mở là một xu thế quốc tế. CT mở là CT chỉ quy định một số chuẩn cần đạt thiết yếu (đầu ra – output). Từ chuẩn đầu ra này mà tác giả SGK và GV sẽ biết phải lựa chọn những nội dung gì (đầu vào – input) để biên soạn SGK, để dạy học nhằm đạt được chuẩn ấy.

Thơ Việt từ hiện đại đến hậu hiện đại (kỳ 10)

Inrasara

BÙI CHÁT

Sinh ngày 22-10-1979 tại Hố Nai, Biên Hoà – Đồng Nai, trong một gia đình công giáo gốc di cư. Tốt nghiệp ngành Văn học, khoa Ngữ văn – Báo chí, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh năm 2001.

Là nghệ sĩ tự do & nhà hoạt động xuất bản độc lập.

Năm 2001 cùng Lý Đợi thành lập nhóm Mở Miệng. Là người đề xuất tên ‘Mở Miệng’ cho nhóm, là thành viên trụ cột của nhóm, là người đề xướng các khái niệm ‘thơ rác’, ‘thơ nghĩa địa’... và là người sáng lập Giấy Vụn – nhà xuất bản chuyên in ấn & phát hành tác phẩm của các nhà thơ vỉa hè dưới hình thức photocopy, vượt qua sự kiểm duyệt của chính quyền.

Công việc chính hiện nay: chủ trì nhà xuất bản Giấy Vụn.

Sinh ra từ trứng (kỳ 6)

Tiểu thuyết của Nguyễn Viện

Ông họa sĩ

Thất lạc cô, ông rơi vào sự hoang mang của cái bất định. Cô là đối tượng nhưng đồng thời cũng là cứu cánh của ông trong cuộc đời thật cũng như nghệ thuật. Ôi, ông nhớ cánh tay mơn trớn lông măng của cô. Ông nhớ cách cô ăn, cách cô cười, cách cô định hình nhân dáng. Những phác thảo mới của ông về cô không thể tập trung nổi. Cô như bị phân tán trong nỗi nhớ mong của ông. Làm thế nào ông có thể ôm được cô, trọn vẹn. Ông biết cô là người mà ông có thể đánh đổi tất cả. Nhưng điều gì đã khiến ông hụt hơi? Quá khứ và tương lai, ông sẵn sàng vứt. Hiện tại của ông không vì thế trở nên đậm màu. Khoảng cách nào không thể vượt qua? Ông thoát Trung, thoát Đảng, thoát Á, thoát cả bản thân. Cái đẹp của trời đất thì vô hạn. Cái đẹp của cô thì vô thường. Và ông không tìm được con đường vô ngại để ôm lấy cái đẹp của sự thấu cảm. Ông là sự ung thối của nỗi sợ hãi và cái câm lặng của loài cừu.

Phạm Hầu: “Tôi theo tư tưởng vô cùng tận”

Minh Hùng


Năm hai mươi hai tuổi, tôi mới đọc thơ Phạm Hầu. Thế là chưa đến nỗi quá muộn. Tôi nghĩ nên đọc Phạm Hầu khi ở độ hai mươi, khi đó ta có thể hiểu ông như một người bạn ngang tuổi, dẫu rằng với thi nhân thì tuổi tác chắc chỉ để đùa. Phạm Hầu, thi sĩ trẻ trung thuộc lớp sau trong phong trào Thơ Mới đột ngột ra đi khi mới vừa 24 tuổi. Người thanh niên ấy còn rất trẻ, nhưng hồn thơ thì đã mênh mang không tuổi, lòng đã định một lẽ sống riêng. Tôi lần đầu bắt gặp hồn thơ ấy trong bài thơ “Lý tưởng”:
Sầu hương hoa gạo đỏ bên chân
Xa nắng chiều hoe nhạt mấy phần
Một cột đèn cao mơ goá bụa
Đường dài toan nối hận gian truân

Tại sao những kẻ độc tài thích làm thơ?

Benjamin Ramm, BBC Culture


 Alamy

Thơ của Stalin chứa đầy những sáo ngữ theo chủ nghĩa tự nhiên. ALAMY

Thơ là nghệ thuật của sự thanh tao, tức là đồng nghĩa với sự tinh tế và nhạy cảm.

Có vẻ ngược ngạo khi thơ cũng có thể được dùng để ca ngợi sự tàn bạo và là loại hình nghệ thuật được các nhà độc tài ưa thích.

Nhưng tự cổ chí kim, các nhà độc tài đều thích làm thơ – để tìm kiếm sự khuây khỏa, giãi bày tâm sự hay vinh quang.

Các tác phẩm của họ giúp chúng ta hiểu được về bản chất của quyền lực, sức hút muôn đời của thi ca và những hiểm họa của việc diễn đạt nghệ thuật.

“Sài Gòn – nhìn từ một người ‘giao hòa Nam – Bắc’”

giay moi Tia Sang

Nhiều người, như tôi, khi bước vào tuổi “bên kia con dốc” lại tự hỏi, nếu được bắt đầu một lần nữa tuổi trẻ, nghề nghiệp, các cơ hội thay đổi cuộc sống… tôi có chọn Sài Gòn không?

Câu tự vấn của TS. Nguyễn Thị Hậu – người mà nghề nghiệp đã gắn liền với tên “Hậu khảo cổ”, ẩn chứa nỗi niềm chung của nhiều người. Cũng như chị, hay nói đúng hơn là giống như những người thuộc thế hệ trước, họ đã bị cuốn theo sức hấp dẫn của Sài Gòn và chọn mảnh đất này làm nơi lập nghiệp. Dòng chảy nhập cư ấy đã diễn ra suốt thế kỷ 20 và biến Sài Gòn thành một bức tranh đa dạng, sinh động, khó nắm bắt như những lớp sóng của dòng Cửu Long cuồn cuộn từ thượng nguồn đổ về mùa nước lớn, để rồi lớp phù sa màu mỡ từ từ lắng đọng nuôi cánh đồng lúa vàng và vườn cây trái ngọt lành…

Dự án “tỷ đô” của Dona.Coop đẩy hàng ngàn dân vào cảnh điêu tàn: 'Tui là Trần Văn Tám ở tù oan đây'

(PLO) - Anh Tám kể trước ngày ra tòa, có người tìm đến nhà, nói với ba mẹ anh nếu chấp nhận giao đất cho Dona.Coop thì con trai ông bà sẽ được hưởng án treo. Còn nếu không giao sẽ đi “tù ở”. Và anh đã bị đi tù thật, thậm chí là đến 18 tháng tù giam chỉ vì lúc đi qua đám đông, anh được người ta gọi nên đã tấp vào bán nửa cây nước đá.

 

Đi qua đám đông và được gọi vào bán nửa cây đá, anh Tám cũng bị kết án tù 18 tháng

“Bị can Trần Văn Tám (SN 1974 tại Đồng Nai, Nơi ĐKTT: ấp An Xuân, xã Long Hưng, Long Thành (nay đã thuộc Biên Hòa - NV).

Văn hóa: 4/12.

Tiền án tiền sự: Không.

Ngày 18/2/2009 cùng đồng bọn tham gia gây rối trật tự công cộng tại UBND xã Long Hưng. Bị bắt ngày 19/2/2009.

Qua điều tra đã chứng minh Tám tham gia vụ án với các hành vi: Ngày 18/2/2009 tụ tập ở UBND xã Long Hưng phản đối chính quyền quy hoạch giải tỏa đất đai mồ mả. Sau đó tiếp đá lạnh cho các đối tượng gây rối pha nước uống.

Hành vi nêu trên của Trần Văn Tám đã đủ yếu tố cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng, được quy định tại Điều 245 BLHS, với vai trò là người giúp sức tích cực”.

Đó là phần cáo buộc trong bản kết luận điều tra vụ nông dân “gây rối” của Công an Đồng Nai với anh nông dân Trần Văn Tám. Chỉ sơ sài những con chữ “buộc tội” như trên cũng dẫn đến bản án tù 18 tháng, và phía sau những con chữ đó là số phận một con người ôm nỗi oan khuất thấu trời.

Bán nước đá cho đám đông cũng bị tù

Hành vi “tụ tập ở UBND xã phản đối chính quyền quy hoạch giải tỏa đất đai mồ mả”, sau đó cơ quan tố tụng đã không chứng minh được. Trích xuất phim ghi lại hình ảnh những người phản đối “Khu đô thị sinh thái kinh tế mở Long Hưng” (tại xã Long Hưng, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, do Liên hiệp HTX Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Đồng Nai – Dona.Coop, làm chủ đầu tư), chỉ thấy hình ảnh người đàn ông bán nước đá xuất hiện lúc vác nửa cây nước đá bỏ vô thùng. Vậy nhưng bản án gần 600 ngày tù vẫn ập xuống đầu anh Trần Văn Tám (SN 1974, ngụ ấp An Xuân, xã Long Hưng).

Anh Tám là người bán nước đá duy nhất ở xã. Mỗi ngày, anh chạy xe ba gác khắp các ấp trong xã giao nước đá cho quán ăn, tiệm tạp hóa... Ngày 17 - 18/2/2009, anh thấy người dân tụ tập, la ó ở trụ sở UBND xã. Mặc dù ba mẹ có nhà đất bị thu hồi, có mộ bị quẹt sơn, nhưng anh nông dân mới học đến lớp Bốn không tham gia đám đông, không rõ người ta “gây rối” hay làm gì. Anh chỉ cần mẫn với việc bỏ nước đá của mình, nuôi vợ và hai con, đứa học lớp Sáu, đứa học lớp Chín.

“Đầu giờ chiều ngày 18/2/2009, tui đến giao ba cây nước đá cho chủ tiệm tạp hóa đối diện trụ sở xã, chủ tiệm là anh Ba Đức. Lúc này tui thấy rất đông người dân trong trụ sở. Có người hỏi mua nửa cây nước đá, yêu cầu tui vác sang trụ sở xã, bỏ vào thùng nước dưới chân cột cờ. Lúc đó nửa cây nước đá giá 12 ngàn đồng. Người ta mua thì tui bán, đó là quyền chính đáng của tui. Có ai thông báo cấm bán nước đá đâu mà bảo tui “tiếp tay”. Tui vác nước đá vào, có người tới quay phim, tui không quan tâm. Bán xong, tui chạy xe đi giao đá nơi khác”, anh Tám kể.

Cứ ngỡ chuyện bán nước đá là bình thường, không liên quan đến vụ “gây rối”. Nhưng anh Tám không ngờ, rạng sáng hôm sau, ngày 19/2/2009, khi anh đang mắt nhắm mắt mở chạy xe lôi đi giao hàng như thường ngày, ngang qua trụ sở xã thì bị công an chặn lại, kêu vô “làm việc”. “Vô đó các ổng bắt ngồi ghế đã đời, sau đó quay phim chụp hình, chẳng hỏi gì ráo, còng tay đưa lên xe bít bùng, chuyển về trại giam B5 (Biên Hòa)”.

Lúc anh bị bắt, xe lôi chở nước đá còn nguyên, công an không cho gọi điện về nhà. Mãi gần trưa, vợ anh nghe hàng xóm báo tin chồng bị bắt, mới lật đật chạy đến hỏi thăm. Người phụ nữ òa khóc một tay gạt nước mắt, một tay lật đật chạy xe đi giao nước đá, sợ mất mối, hai con ở nhà lấy gì ăn.

“Phải nói tốt cho dự án không nó nhốt”

Anh Tám bị đưa lên trại giam B5 để điều tra, tại đây anh gặp nhiều người cùng “gây rối” bị bắt. Toàn những người chưa chịu giao đất cho dự án của Dona.Coop. “Cùng bị đưa lên ngồi chung xe với tui, còn có con nhỏ cỡ 22-23 tuổi lạ mặt mặc áo đỏ. Sau này nghe hàng xóm kể, mới biết con nhỏ đó là một trong những đối tượng kích động, đập phá (PLVN đã phản ánh trong bài 7 - NV). Công an còn mướn đò sang tận Quận 9 (TP HCM) bắt thêm ít nhất hai người khác kích động. Lạ là không thấy tụi này có tên trong kết luận điều tra, xử cũng không thấy. Đến giờ dân vẫn ấm ức chưa biết tụi nó ai thuê đến quậy phá”, anh Tám kể.    

“Trong phòng lấy lời khai, đầu tiên họ vu cho tui kéo xe chở đá cục đến ném vô trụ sở xã. Tui nói với mấy ông công an: “Các ông cứ mang hình ảnh các ông quay được ra đây coi. Nếu thấy tui la hét, quậy phá, đập xe, hay chỉ cần chọi một cục đá… thì các ông yêu cầu gì tui chấp nhận hết”. Họ lấy phim ra coi, chỉ thấy dính hình tui vác nước đá chặt bỏ vô thùng. Vậy mà các ổng ép mình vô. Tui còn nhớ người ghi lời khai tui khi đó là một thiếu úy, tui nhớ cả họ tên ông này rõ ràng. Tui nhớ lời tui khai từng chữ. 10 năm sau tui nhắc lại, nếu trật một chữ thì tiếp tục bắt tui nhốt cũng được”.

“Cái ông thiếu úy đó lấy lời khai tui đầu tiên. Ổng ngồi ở ghế, kêu mình khai để ổng viết. Mình không làm những việc đó nên chỉ nói: “Tui là người dân địa phương tui đi bán nước đá vậy vậy vậy...”. Ổng “Ờ ờ ờ” rồi giơ thuốc mình hút đàng hoàng, trong lúc đó tờ văn bản ổng lập sẵn rồi. Rồi ổng bảo “đi ra ngoài suy nghĩ lát giải quyết”. Rồi ổng vô lấy cái tờ giấy dưới hộc bàn lên, tưởng mình không biết chữ, bảo “đây có phải lời khai của em không? Em ký tên đi”. Tui cầm đọc lên, phát hoảng la lên “đây có phải lời khai của tui đâu. Tui hổng ký””.

“Sau ổng đi ra kêu thêm một người nữa vô. Người đó cũng làm như vậy, lấy một tờ khai viết sẵn khác để lên. Ai mà sơ ý là bị ghép vào tội đập phá ủy ban, đốt xe luôn à. Trong phim thấy hình ai quậy phá, bị bắt lên đó là bị uýnh luôn”.

“Lên đó nhốt riết tui chín ngày rồi cho tại ngoại. Sau khi tại ngoại, có một tốp người kêu tui ra ủy ban, yêu cầu phải nói tốt cho dự án này, nếu không nó nhốt. Trước khi mình bước vô phòng, có một ông dặn, khi được hỏi “anh phải suy nghĩ theo cảm nghĩ của một người ở địa phương từ nhỏ đến lớn là sau khi cái dự án này đến anh thấy vừa ý hay không?”. Nó bắt mình phải nói tốt theo lời của nó về cái dự án này như “có dự án thì mới có đường lớn, con em mới được đến trường”. Nó bắt mình nói như vậy để nó quay phim. Những ai bị bắt, được tại ngoại, đều phải ra đó xếp hàng nói vậy hết trơn, không thì nó hù nhốt. Tui không rõ tốp người đó là của chính quyền hay của Dona.Coop. Lúc đó vừa bị nhốt chín ngày, từ nhỏ tới lớn đã uýnh lộn lần nào đâu mà nay bị bắt vào tù, sợ tối tăm mặt mũi nên bị bắt nói gì chẳng nói”.

“Tui là Trần Văn Tám ở tù oan đây”

“Sao lại bắt tui ở tù?”

Ba mẹ Tám anh khi đó có ba mẫu ruộng bị dự án Dona.Coop thu hồi. Ông bà phản đối dự án bất công, không chịu giao. Ngày 30/11/2009, Tòa tỉnh Đồng Nai mở phiên xử sơ thẩm, anh Tám có tên trong danh sách 46 bị cáo.

Anh Tám kể trước ngày ra tòa, có người tìm đến nhà, nói với ba mẹ anh nếu chấp nhận giao đất cho Dona.Coop thì con trai ông bà sẽ được hưởng án treo. Còn nếu không giao sẽ đi “tù ở”. Ba mẹ anh lo sợ, 7h tối lật đật gọi vợ chồng con trai đến nói chuyện. Anh khảng khái không chấp nhận. Anh bảo bị oan, không có tội: “Họ không chứng minh được con gây rối quậy phá gì hết nên ép con là “cung cấp đá lạnh cho người gây rối”. Ba má đừng có sợ gì hết. Họ có ác lắm thì ép con mấy tháng tù treo, hoặc cùng lắm một hai năm tù rồi về”.

Như một linh cảm, anh thấy lần này lên tòa “lành ít dữ nhiều”. Anh liệu tính được rằng “có đi mà không có về” nên cả đêm ấy, chạy xe khắp các mối mua nước đá, dặn dò: “Con đi chuyến này có thể bị giam luôn. Ở nhà vợ con thay con giao nước đá, bà con nhớ ủng hộ chờ con về”. Anh kể đã hiểu “mưu ma chước quỷ” là thế nào từ khi bị bắt, nên không còn biết sợ điều gì nữa. Chỉ sợ cả nhà phụ thuộc vào xe nước đá, anh đi tù, mất nguồn sống, là vợ con chết đói.

Đúng như anh liệu tính, tòa tuyên anh 1 năm 6 tháng tù giam về tội đồng phạm “gây rối trật tự công cộng”. Cùng bị tuyên án tù với hành vi “cung cấp nước, đá, xăng cho người gây rối” như anh có những nông dân Nguyễn Văn Tài, Lý Văn Hiệp, Trần Phước Thanh, Lê Văn Rõ... Những người được tại ngoại bị tuyên án tù giam, bị bắt thi hành án ngay sau khi phiên tòa kết thúc. Anh không nhận tội, kháng cáo. Tòa phúc thẩm y án. 

Lời gửi gắm của anh trước khi đi tù được người dân xã Long Hưng giữ lời. Vợ anh vẫn tiếp tục công việc thường ngày của chồng để kiếm tiền nuôi con, chờ ngày anh về. Bà con ủng hộ, không bỏ gia đình anh.

“Có người gọi mua nước đá thì tui bán, đó là nghề mưu sinh của tui. Tại sao lại bắt tui ở tù? Sao không bắt luôn những người họ hàng các cán bộ xã bữa đó cũng ra ủy ban la ó kích động “đánh trận giả”? Cái đó cứ coi lại mấy đoạn phim là rõ ngay. Sao có cái kiểu kết án “nhà có đất chưa chịu giao cho Dona.Coop và có mặt ở hiện trường là có tội”? Ấy là họ dùng “luật rừng””, anh Tám bức xúc.

Ngày 24 Tết Nhâm Thìn, hết hạn tù, bước thấp bước cao trên con đường về làng với hai chữ “tiền án” ghi trong hồ sơ, anh biết cuộc đời anh đã rẽ sang một hướng khác. Nỗi oan ấy đời anh đã chịu, ba má anh đã chịu, nhưng không thể để các con cháu anh phải ôm nỗi oan khuất là con cháu của một “thằng tù”. “Tức lắm. Còn gì để sợ nữa. Mất hết đất, lại còn ở tù. Tui là Trần Văn Tám ở tù oan đây”, mắt anh rơm rớm vằn lên những tia đỏ.

Trong vụ án oan nghiệt này, còn có những nông dân đi tù nhưng mãi mãi không về vì bị cho rằng “thắt cổ tự vẫn trong trại giam”; có những người bị bắt oan chín tháng rồi thả, không một lời xin lỗi, không một xu đền bù…

Nhóm PV

Nguồn: http://baophapluat.vn/ca-phe-luat/du-an-ty-do-cua-donacoop-day-hang-ngan-dan-vao-canh-dieu-tan-tui-la-tran-van-tam-o-tu-oan-day-387645.html

Cõi trần vấn vương

Truyện Nguyễn Ngọc Hoa

Tháng Chín 1954 – Vượt tuyến vào Nam. Lần đầu tiên đi tàu biển nhưng không bị say sóng vì thằng Bé mệt đừ nằm lăn ra ngủ một lèo đến khi khi tàu cập bến Đà Nẵng sáng hôm sau. Sau lần đi thăm cha ở Lăng Cô khoảng một năm rưỡi trước, đây là lần thứ hai tôi ra khỏi làng quê nhưng tất cả mọi thứ đều mới lạ, mới thấy mới nghe mới biết lần đầu.

Những người di cư được đón tiếp bởi nhiều người thành thị ăn mặc chỉnh tề khác hẳn với người ngoài làng. Một ông dang tay nắm hai tay tôi nâng cả người lên đưa qua chiếc cầu tàu, một kiểu bế bồng mới mẻ đối với chú bé nhà quê. Người ta nói tiếng địa phương mà nghe như là một ngoại ngữ nào đó, thí dụ như “Chô choa, néng choang choang mà zợ chồng hén thôm lắm, lồm chi lồm miết rứa mòa không nghỉ nơ”. (Chu cha, nắng chang chang mà vợ chồng nó tham lắm, làm gì làm hoài vậy mà không nghỉ).

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 27): Ninh Kiều

NinhKieu-2016

Ninh Kiều (tên thật Trần Thị Châu Hoàn), sinh năm 1946 tại Cần Thơ, trưởng nữ nhà văn Hợp Phố. Định cư ở Paris (Pháp) từ năm 1964. Tiến sĩ Toán học (Đại học Paris 6). Kĩ sư Toán Tin ứng dụng tại Ủy Ban về Năng Lượng Nguyên Tử CEA-Saclay (ngoại ô Paris). Bắt đầu viết và dịch sách năm 2006. Đồng dịch giả Chữ Số hay Lịch sử một phát minh vĩ đại Lược sử vật lí (nxb Tri Thức), dịch giả Khám phá rừng (nxb Kim Đồng). Tác giả tập truyện ngắn Bún chả (nxb Phụ nữ).

Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes - Kinh Lạy Cha (phần 5A)

Nguyễn Cung Thông[1]

Phần này bàn về Kinh Lạy Cha (KLC) qua các dạng ghi nhận trong văn bản từ thời bình minh của chữ quốc ngữ. Phân tách kỹ hơn KLC sẽ tìm ra các dấu ấn của tiếng Việt cổ, sự thay đổi cách dùng trong tiếng Việt và ngay cả ảnh hưởng chính trị và thời cuộc. Cũng vào thời gian soạn phần 5A này, các vị giám mục Pháp đã quyết định đổi một chữ trong KLC "Ne nous soumets pas à la tentation" thành "Ne nous laisse pas entrer en tentation" (so với KLC tiếng Việt 2017 "Xin chớ[2] để chúng con sa chước cám dỗ", tiếng Anh "lead us not into temptation"). Điều này đức Giáo Hoàng Francis cũng đề cập đến trong một buổi phỏng vấn gần đây (BBC News[3] 8/12/2017). Các động từ soumettre (Pháp) và lead (Anh) đều có thể hàm ý bị dẫn đến (thể thụ động/passive), hay hàm ý chính Thiên Chúa dẫn dụ con người (sa cám dỗ): không đúng theo ý của nguyên bản Hi Lạp. Tiếng Việt không bị trường hợp tối nghĩa như trên vì ảnh hưởng phần nào từ tiếng Bồ-Đào-Nha khi dịch (xem các bản KLC phần dưới). Do đó tùy theo từng giáo hội và ở những thời kỳ khác nhau mà KLC có thể thay đổi, điều này làm quá trình tìm hiểu ý nghĩa KLC trở nên rất thú vị nhưng không nằm trong phạm vi bài viết này. Các tương quan ngữ âm ghi nhận trong bài viết không nhất thiết khẳng định nguồn gốc (Việt, Khmer hay Hán cổ …) của các từ này. Tài liệu tham khảo chính của bài viết này là ba tác phẩm của LM de Rhodes soạn: cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC) và từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false . Các chữ viết tắt khác là NCT (Nguyễn Cung Thông), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1324), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716), P (tiếng Pháp), A (tiếng Anh), L (tiếng La Tinh), PG (Phật Giáo), CG (Công Giáo), ĐCT (Đức Chúa Trời), ĐCGS (Đức Chúa Giê Su), TCTGKM (Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông), KNLMPS (Kinh Những Lễ Mùa Phục Sinh), LM (Linh Mục), VN (Việt Nam), TQ (Trung Quốc), HV (Hán Việt), Bắc Kinh (BK), ĐCT (Đức Chúa Trời), ĐCGS (Đức Chúa Giê Su). Trang/cột/tờ của VBL được trích lại từ bản La Tinh để người đọc tiện tra cứu thêm. Tiếng Trung (Hoa) gọi KLC là Thiên Chúa Kinh 天主經 hay Chúa/Chủ Đảo Văn 主禱文, có lẽ không rõ nghĩa so với các tên gọi kinh này trong tiếng Việt như Kinh Tại Thiên, Kinh Lạy Cha (KLC) ... KLC tiếng Anh là "Lord’s Prayer" (Lời cầu của ĐCT) hay "Our Father" (Cha chúng ta) hay có lúc dùng tiếng La Tinh Oratio Dominica (lời cầu của ĐCT, Oraison Dominicale tiếng Pháp) hay Pater Noster[4] (Cha chúng ta, Notre Père tiếng Pháp). Bản La Tinh (Vulgate):"Pater noster, qui es in caelis, sanctificetur nomen tuum, adveniat regnum tuum, fiat voluntas tua, sicut in caelo, et in terra. Panem nostrum supersubstantialem da nobis hodie; et dimitte nobis debita nostra, sicut et nos dimittimus debitoribus nostris; et ne inducas nos in tentationem; sed libera nos a Malo.". Bản này có 49 chữ và dùng vài chữ[5] (khi dịch từ bản Hi Lạp cổ) đáng chú ý như supersubstantialem (hàng ngày), debita (nợ). Debita/L (< debitum/L) không hẳn chỉ nợ về tiền bạc, còn có thể chỉ tội lỗi/sai trái dựa vào các ngôn ngữ cổ (td. tiếng Aramaic). Tiếng Anh có lúc dùng trespass (vi phạm) so với debt (nợ), tiếng Pháp dùng chữ offense (xúc phạm): bản KLC 1992 dùng "tội/lỗi", KLC năm 1925/1934 dùng "phạm tội nghịch" so với bản KLC năm 1891 dùng "mếch lòng" với nét nghĩa mở rộng (xem các hình chụp lại ở dưới). Bản La Tinh trên sẽ được dùng để làm bản gốc để so sánh với các bản dịch của bài này (cũng như các ngôn ngữ khác tiếng Việt).

1. KLC dùng làm dụng cụ so sánh ngôn ngữ (đồng đại lịch đại)

Dự án của Dona.Coop đẩy hàng ngàn dân vào cảnh điêu tàn: Những kẻ chủ mưu giấu mặt trong đêm 680 nông dân bị bắt

(PLO) - Kể từ buổi chiều 18/2/2009 xuất hiện nhóm người lạ xuất hiện ném đá vào trụ sở xã, kích động đám đông đang phản đối “Khu đô thị sinh thái kinh tế mở Long Hưng” (tại xã Long Hưng, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, do Liên hiệp HTX Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Đồng Nai – Dona.Coop làm chủ đầu tư), điểm nóng đất đai tại Long Hưng đã bị lái đi sang một hướng khác: Từ bản chất việc nông dân phản đối dự án trái luật, đền bù rẻ mạt; chủ đầu tư xâm hại mồ mả; đòi chính quyền địa phương bảo vệ quyền lợi chính đáng của dân; lại chuyển thành vụ nông dân “đối đầu” chính quyền.

Dự án của Dona.Coop đẩy hàng ngàn dân vào cảnh điêu tàn: Những kẻ chủ mưu giấu mặt trong đêm 680 nông dân bị bắt

Phiên tòa kết tội 46 nông dân.

Hồ sơ vụ án không nhắc đến mâu thuẫn giữa nông dân với chủ đầu tư lấy đất giá rẻ mạt, mà đẩy sự việc sang hướng cáo buộc nông dân “làm tê liệt hoạt động toàn bộ hệ thống chính trị xã” từ 13h – 23h ngày 18/2/2009, làm số tài sản trị giá hơn 650 triệu bị thiệt hại. Hồ sơ vụ án không nhắc đến những bức xúc chính đáng của nông dân mất đất, mà chỉ thấy mô tả những nông dân “manh động, hung hăng”. Cái đêm kinh hoàng ấy, công an từ khắp nơi đổ về đông nghẹt lùng bắt người.

Thơ Việt từ hiện đại đến hậu hiện đại (kỳ 9)

Inrasara

CHÂN PHƯƠNG

Sinh năm 1951 tại Nam Vang, Cambốt.

Hiện sống ở Boston, tiểu bang Massachusetts, U.S.A.

Thơ đăng trên các tạp chí nước ngoài: Văn Học, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Việt, Diễn Đàn (Paris), VietNam Forum (Đại Học Yale), Illuminations (Đại Học Charleston), Tribuna (Rumania)…

Tác phẩm đã xuất bản:

- Chú Thích cho Những Ngày Câm Nín (1989).

- Bản Án cho Các Vĩ Cầm (1992).

- Nghĩa Đen (1993).

- Bổ Túc Lý Lịch Cho Loài Di Dân (1994).

- Biển là Một Tờ Kinh (1996), trong tủ sách thơ Trình Bầy do cố thi sĩ Diễm Châu chủ biên ở Strasbourg, Pháp.